『Tạp chí Văn Hóa』のカバーアート

Tạp chí Văn Hóa

Tạp chí Văn Hóa

著者: RFI Tiếng Việt
無料で聴く

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

France Médias Monde
アート
エピソード
  • Những nghệ sĩ Pháp diễn truyền thuyết Việt
    2026/10/30
    Hãy tưởng tượng những truyền thuyết Việt Nam được kể bằng tiếng Pháp qua nghệ thuật opera và phần trình diễn của các nghệ sĩ Pháp. Với Con Rồng Vàng và Người đánh cá trong tách trà, đạo diễn Olivier Dhénin Hữu cùng nhà soạn nhạc Benjamin Attahir đã kết nối thế giới huyền thoại Việt Nam với nghệ thuật sân khấu Pháp. Sau khi công diễn tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, hai tác phẩm tiếp tục được giới thiệu tại nhiều sân khấu ở Pháp. Vở ca kịch Con Rồng Vàng và Người đánh cá trong tách trà được đạo diễn Pháp gốc Việt Olivier Dhénin Hữu lấy cảm hứng từ sân khấu truyền thống Việt Nam, đặc biệt là hát bội và cải lương. Theo trang Vietnamplus, vở Con Rồng Vàng kể một người Trung Hoa sang An Nam tìm con rồng vàng dưới đáy hồ, với niềm tin rằng đặt hài cốt cha mình vào miệng rồng sẽ giúp ông trở thành vua. Tuy nhiên, chàng đánh cá nhận lời làm việc này đã bí mật đánh tráo hài cốt, đưa xương cha mình vào thay và sau đó trở thành vua Đinh Tiên Hoàng. Còn vở Người đánh cá trong tách trà kể chuyện Trương Chi, chàng đánh cá có giọng hát lay động lòng người nhưng mang ngoại hình xấu xí. Sau khi qua đời trong tuyệt vọng vì tình yêu với công chúa Mỵ Nương, linh hồn chàng chỉ được giải thoát nhờ những giọt nước mắt hối tiếc của nàng. Truyền thuyết kết nối hiện tại với quá khứ Cả hai vở đều được trình diễn tại Nhà hát Opera Sài Gòn và Nhà hát Hồ Gươm Hà Nội vào tháng 11/2023 trong khuôn khổ chuỗi sự kiện kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao Pháp-Việt. « Hai huyền thoại đưa khán giả vào những câu chuyện giàu chất thơ và lịch sử, qua đó khám phá một Việt Nam còn ít được biết đến tại Pháp ». Tại sao lại quan tâm đến truyền thuyết Việt Nam ? Đạo diễn Olivier Dhénin Hữu giải thích với RFI Tiếng Việt ngày 06/10/2026 : « Đối với tôi, sân khấu là không gian để làm sống dậy những điều đã mất và khám phá những miền ký ức còn chưa được biết tới. Dự án này đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi suốt nhiều năm, kể từ khi tôi bắt đầu ấp ủ ý tưởng về một vở opera lớn lấy cảm hứng từ câu chuyện của mẹ và bà ngoại người Việt, cách đây gần 5 năm. Chương trình lưu trú của Viện Pháp (L‘Institut français du Vietnam - IFV) đã giúp giấc mơ ấy trở thành hiện thực. Việc dàn dựng vở opera tại Sài Gòn và Hà Nội từng là điều mà tôi khó có thể hình dung. Đây là cơ hội đã giúp tôi tìm lại những lớp lịch sử đan xen nhau : lịch sử gia đình, lịch sử một đất nước và lịch sử của những vùng đất, những thành phố bị đổi tên theo biến động địa-chính trị và mang theo những thay đổi sâu sắc đối với đời sống con người và vận mệnh của cả một dân tộc. Đó cũng là hành trình giúp tôi kết nối lại với cội nguồn của gia đình mình. Tôi tin sân khấu có khả năng gợi lại những người đã khuất. Điều này càng mang ý nghĩa đặc biệt tại Việt Nam, nơi thế giới bên kia và thế giới con người dường như luôn tồn tại một khoảng cách vô hình. Chính sân khấu đã cho tôi cơ hội vượt qua ranh giới đó. Từ góc nhìn ấy, những truyền thuyết trở thành cánh cửa dẫn vào lịch sử dân tộc, bởi vì lịch sử của một quốc gia trước hết được lưu giữ trong các truyền thuyết, thơ ca, văn chương và những hình thức nghệ thuật ». Hai câu chuyện nằm trong vở opera Paysages dans l’oubli (Khung cảnh trong quên lãng), được Olivier Dhénin Hữu dàn dựng như một bức tranh ghép, đặt ra những câu hỏi vẫn mang tính thời sự về nguồn cội, ký ức, sự khác biệt và tình yêu. « Khi viết lời cho vở opera, mỗi lần do dự hay mắc kẹt trước những ký ức lịch sử quá đau đớn và khó đối diện, thơ ca luôn là chất liệu giúp tôi mở ra một lối đi khác, cho phép tôi bước sang một tầng cảm nhận khác. Chính những truyền thuyết đầy chất thơ được truyền từ đời này sang đời khác, từ câu chuyện Trương Chi đến Đinh Bộ Lĩnh, đã trở thành nguồn cảm hứng đặc biệt. Với tôi, đó là cách để hàn gắn ký ức, khôi phục những mối liên hệ bị lãng quên và kết nối quá ...
    続きを読む 一部表示
    10 分
  • Một thế kỷ in ấn, xuất bản và minh họa Việt Nam qua tư liệu tại Paris
    2026/10/09
    In ấn, xuất bản và minh họa đã phát triển như thế nào tại Việt Nam trong giai đoạn 1860-1945? Triển lãm tại Thư viện Đại học Ngôn ngữ và Văn minh BULAC Paris (17/08-31/10/2026) giới thiệu gần một thế kỷ chuyển biến, từ in mộc bản truyền thống đến ngành in hiện đại du nhập từ Pháp, sự kết hợp giữa hội họa và xuất bản. Trong quá trình này, in ấn trở thành công cụ quan trọng phố biến Quốc ngữ, gắn liền với sự phát triển của văn học, báo chí, đồ họa, xuất bản Việt Nam. In mộc bản và khởi đầu của in ấn hiện đại tại Việt Nam Triển lãm này tiếp nối triển lãm về chữ Quốc ngữ do BULAC tổ chức năm 2023. Trả lời RFI Tiếng Việt, chị Nguyễn Thị Hải, phụ trách phông tiếng Việt tại BULAC và đồng tổ chức triển lãm, cho rằng để hiểu được những tiến bộ vượt bậc trong ngành in, có lẽ nên bắt đầu từ kỹ thuật in mộc bản, được giới thiệu trong phần đầu triển lãm. “Mộc bản ở Việt Nam đã xuất hiện từ khá sớm. Thời kỳ đầu, hầu như chỉ dùng để xuất bản các văn bản về Phật giáo, sau đó là những văn bản mang tính chất chính thống của triều đình. Nhưng việc xuất bản bằng mộc bản rất đắt đỏ cho nên không thực sự phát triển ở Việt Nam. Phải đến cuối thế kỷ XIX mới thấy các sách xuất bản bằng mộc bản ở Việt Nam xuất hiện nhiều hơn, nhưng chỉ phát triển chủ yếu ở miền Bắc và miền Trung. Ở miền Nam có một cộng đồng người Hoa sinh sống rất là lớn. Để tiếp tục học và phát triển tiếng Trung, họ chủ yếu mua sách từ Trung Quốc và bán cho cộng đồng. BULAC có một bộ sách chứng minh cho quá trình di chuyển các tác phẩm văn học Việt Nam bởi các trí thức miền Nam viết tay và chép lại, sau đó gửi sang in ấn ở Phật Sơn, Quảng Đông, Trung Quốc và sau đó gửi về bán tại Sài Gòn”. Những nhà in đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện vào thế kỷ XIX, do các nhà truyền giáo thành lập, chủ yếu để in kinh sách bằng chữ Hán và chữ Nôm. Phần lớn sách Quốc ngữ vẫn phải in ở nước ngoài, như Roma, Ấn Độ, Bangkok và Hồng Kông. Chị Nguyễn Thị Hải cho biết BULAC hiện lưu giữ nhiều ấn phẩm chữ Quốc ngữ được in tại Bangkok giai đoạn 1840-1860, trước khi Pháp thiết lập chế độ thuộc địa. “Khi này chính quyền Nam Kỳ quyết định lập nhà in Imprimerie Nationale, vẫn gọi là Bản in Nhà nước. Lúc đầu họ chủ yếu in bằng tiếng Pháp. Phải đến những năm 1860-1865, chúng ta thấy có một số bản in bằng chữ Quốc ngữ, đặc biệt là những cuốn sách được xuất bản bởi Trương Vĩnh Ký hoặc là Gia Định báo, tờ báo Quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam được in tại Sài Gòn. Thời kỳ này, các bản in rất là hạn chế bởi vì chỉ có nhà in của nhà nước. Sau đó dần dần ở Nam Kỳ xuất hiện một số nhà in do người Pháp lập ra. Và thời kỳ này có hai luồng xuất bản. Thứ nhất là sách bằng chữ Quốc ngữ được in ấn, xuất bản bởi nhóm của Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của và các bản tiếng Pháp khác. Cùng thời điểm đó, cộng đồng người Hoa bắt đầu in bằng chữ Quốc ngữ. Nhưng các bản in thời kỳ này chủ yếu là chữ và việc minh họa rất là hạn chế”. Trong thập niên 1920-1930, hoạt động in ấn phát triển mạnh ở miền Nam cùng với sự phát triển của chữ Quốc ngữ. Các nhà in lớn tập trung tại khu vực trung tâm Sài Gòn, các cơ sở nhỏ hoạt động quanh Chợ Lớn, chuyên in các ấn phẩm nhỏ như thơ, văn, tài liệu phổ biến thông tin. Các nhà in còn chủ động quảng bá hoạt động, ví dụ nhà in Joseph Nguyễn Văn Viết thậm chí sáng tác thơ để quảng cáo, cảm ơn độc giả và kêu gọi mua sách. In truyện dài kỳ để phổ biến chữ Quốc ngữ Cuối thế kỷ XIX, miền Bắc Việt Nam vẫn chủ yếu sử dụng kỹ thuật in mộc bản. Đầu thế kỷ XX, in ấn chữ Quốc ngữ bắt đầu phát triển với sự tham gia của Nguyễn Văn Vĩnh. Cùng với Dufour, một người Pháp, ông thành lập nhà in, xuất bản nhiều ấn phẩm nhằm phổ biến chữ Quốc ngữ, tiêu biểu là Tam Quốc chí diễn nghĩa, bản in đầu tiên tại Bắc Kỳ, theo giải thích của chị ...
    続きを読む 一部表示
    12 分
  • Pháp : "Những người khốn khổ", phiên bản điện ảnh mới
    2026/10/23
    Sau hai quyển truyện « Ba chàng lính ngự lâm » và « Bá tước Monte Cristo » của Alexandre Dumas, đến phiên tiểu thuyết đồ sộ « Les Misérables » (Những người khốn khổ) của Victor Hugo được đạo diễn Fred Cavayé chuyển thể lên màn ảnh lớn. Bộ phim có kinh phí cao (gần 40 triệu euro) quy tụ một dàn diễn viên gạo cội, trong đó có Vincent Lindon vào vai tội phạm Jean Valjean. Còn Tahar Rahim vào vai kẻ thù không đội trời chung của ông là viên thanh tra Javert. Từ khi được xuất bản vào năm 1862, « Những người khốn khổ » đã được chuyển thể rất nhiều lần, thành nhiều thể loại khác nhau : phim ảnh, nhạc kịch, truyện tranh, sách thiếu nhi … Do vậy, cuốn tiểu thuyết đồ sộ của Victor Hugo đã trở nên khá quen thuộc với công chúng. Ngay cả những người chưa từng đọc tiểu thuyết cũng đã từng nghe nhắc đến câu chuyện này. Vậy thì phiên bản điện ảnh 2026 có gì mới so với hàng chục phiên bản trước. Về nội dung, bộ phim mới được công chiếu, khá trung thành với tiểu thuyết gốc, bối cảnh phim là giai đoạn đầy biến động của các cuộc nổi dậy tại Pháp vào những năm 1830. Phe Cộng hòa đấu tranh đòi lật đổ nền quân chủ. Bộ phim kể lại câu chuyện của Jean Valjean, bị kết án 19 năm tù chỉ vì ăn cắp một ổ bánh mì, vì cũng như ông nói : bần cùng sinh đạo tặc. Sau khi mãn hạn tù, ông được cấp « thẻ vàng », một loại giấy tờ tùy thân dành cho những kẻ phạm tội, đi đâu cũng bị phân biệt đối xử. Kẻ đã trả nợ xã hội rốt cuộc vẫn bị « đánh cùng đuổi tận », không còn nơi nào để dung thân. Cho đến ngày Jean Valjean gặp đức cha Bienvenu. Vị giám mục này là người duy nhất mở rộng vòng tay đón tiếp kẻ từng phạm tội. Khi Jean Valjean bị cảnh sát bắt giữ vì tội ăn cắp đồ đạc trong nhà giám mục, đức cha Bienvenu chẳng những nói đó là một món quà mà còn tặng thêm cho Jean Valjean hai chân nến bằng bạc. Hành động tha thứ này đã giúp Jean Valjean thay đổi hẳn tâm tính, từ bỏ quá khứ tù tội để trở thành một con người tốt hơn, luôn làm việc thiện để tìm cách chuộc lỗi. Tuy nhiên, Jean Valjean luôn bị thanh tra Javert truy lùng theo đuổi. Cuộc chạm trán giữa cựu tù nhân Valjean và viên cảnh sát Javert quyết đoán, người luôn coi luật pháp là điều quan trọng nhất và quyết tâm bắt giữ kẻ đã từng vượt ngục trong quá khứ. Cuộc đối đầu giữa hai nhân vật này được lồng vào đỉnh điểm phong trào nổi dậy, phe Cộng hòa lập chiến lũy chống lại quân đội hoàng gia. Đôi khi, vì muốn trật tự xã hội bằng mọi giá, nào ngờ lại tạo ra bạo động hỗn loạn. Trong bức tranh xã hội Pháp đầy áp bức và bất công, hành trinh của Jean Valjean gắn liền với nhiều số phận bất hạnh khác. Bản phóng tác điện ảnh của Fred Cavayé dùng ngoại cảnh đầy biến động để soi chiếu xung đột nội tâm : người nhất quyết thi hành công lý bất kể giá nào, kẻ hướng thiện lại không có cơ hội thứ nhì để chuộc lỗi. Yếu tố mạnh mẽ nhất trong phiên bản lần này chính là ống kính của nhà đạo diễn, ông nghiêng nhiều về tâm lý của nhân vật phản diện, hầu như biến Jalvert thành nhân vật chính. Mẹ của viên thanh tra Javert là một thầy bói toán, từng có quan hệ với một người đàn ông bị kết án tù khổ sai. Bản thân Javert được sinh ra ở trong tù, do vậy ông ghét cay ghét đắng những kẻ phạm tội. Điều đó giải thích vì sao, một cách mù quáng, Javert truy đuổi tận cùng Jean Valjean, vì thành phần bị cho là « cặn bã xã hội' » lại nhắc nhở lý lịch cũng như quá khứ không mấy tốt đẹp của chính gia đình ông. Cuộc đối đầu gay cấn giữa hai nhân vật Javert/Valjean tạo được điểm nhấn hấp dẫn, cho dù các tuyến truyện khác không sâu sắc bằng hai phiên bản điện ảnh trước với Jean Gabin/Bernard Blier (1958) và Lino Ventura/Michel Bouquet (1982) trong vai chính. Sức sống mãnh liệt của các tác phẩm kinh điển Hơn 150 năm sau ngày ra đời, tiểu thuyết « Những người khốn khổ » của Victor Hugo vẫn tạo nguồn cảm hứng phóng tác cho nhiều nhà biên kịch, đạo diễn cũng như giới giảng dạy ...
    続きを読む 一部表示
    10 分
adbl_web_anon_alc_button_suppression_t1
まだレビューはありません