エピソード

  • Raviolivre : Quyển sách sưu tầm cách làm món hấp ravioli trên thế giới
    2026/09/12
    Ravioli là món ăn truyền thống nổi tiếng của Ý, làm bằng bột mì cán mỏng có nhân bánh đa dạng như thịt, nấm, phô mai, tôm cá, rau củ thái nhỏ. Về hình dáng và cách làm, Ravioli rất giống bánh tai, bánh gối, hoành thánh hay sủi cảo của châu Á. Cùng với mì sợi, ravioli là món ăn khá phổ biến ở khắp nơi, khác hay chăng là thành phần chế biến và cách dùng tên gọi. Trong vòng nhiều năm, nhà báo người Pháp Emmanuel Guillemain d'Echon đã đến nhiều nước trên thế giới, để sưu tầm và ghi chép công thức của mỗi kiểu ravioli của từng nơi. Kết quả là một quyển sách dạy nấu ăn dày gần 600 trang mang tựa đề « RavioLivre, le tour du monde d'un fou du ravioli » (Chuyến du lịch vòng quanh thế giới của một người ghiền Ravioli) do nhà xuất bản Keribus phát hành. Cuốn sách này không phải là một quyển bách khoa toàn thư về Ravioli, mà lại giống như một sổ tay hành trình kết hợp với khám phá ẩm thực, vì tác giả kể lại những cuộc gặp gỡ với các gia đình người dân bản xứ, nghe họ kể lại những truyền thuyết, phong tục cũng như ghi chép lại bí quyết nấu ăn gia truyền. Hành trình viết sách đã đưa tác giả Pháp đi đến hơn 20 nước trên thế giới : từ món Plottes của vùng Québec Canada, bánh Pierogi của Ba Lan, Klepe của vùng Balkans dùng với xốt bơ trắng trộn tỏi chứ không dùng xốt cà chua, loại Kasnudeln và Knodel của Áo, Manti ở Thổ Nhĩ Kỳ, Pelmeni của Nga, Mandu của Hàn Quốc, Gyoza Nhật Bản, Boudz của Mông Cổ, Jiaozi và Wonton của Trung Quốc … Ngoài ra, chương cuối quyển sách dành cho những lộ trình khám phá bên lề, có thể là đề tài trong một quyển sách kế tiếp. Trả lời phỏng vấn đài RFI ban tiếng Pháp, Emmanuel Guillemain d'Echon trước hết cho biết ông thích nhất món raviolis của những nước nào : Trên thế giới, có hàng ngàn kiểu bánh hấp có nhân đa dạng, nhưng tôi vẫn thích nhất loại bánh hấp Modak của Ấn Độ, Tiểu Long bao của Trung Quốc và Khinkali của Gruzia. Đây là một cảm nhận rất chủ quan và hẳn chắc là mỗi độc giả sẽ có một cái nhìn khác. Nhìn chung, tôi thích nét tinh tế trong cách làm cũng như trong hương vị của các loại bánh này. Bánh Modak của Ấn Độ được chế biến như một món ngọt để cúng thần đầu voi Ganesh. Trong khi bánh bao hấp Khinkali của Gruzia lại giống như Tiểu Long Bao (Xiao Long Bao) ở Thượng Hải, đó là loại bánh hấp khá công phu, vì ngoài nhân thịt còn có thêm một chút nước dùng ở bên trong lớp vỏ bột thật mỏng. Nước dùng tạo thêm nhiều hương vị và giữ cho nhân bánh được nóng lâu. Đây là một sự kết hợp khá độc đáo mà người Ý ở vùng Bologna chưa hề nghĩ tới. Lần đầu tiên ăn bánh Khinkali, bạn sẽ khá ngạc nhiên : loại ravioli này nên được ăn nguyên chứ đừng nên cắn từng miếng, vì nếu không khéo, nước dùng sẽ đổ lên áo của bạn. Đây là món ăn quốc hồn quốc túy của Gruzia (dù chưa được công nhận chính thức). Người dân miền núi Khevsur hay Pshav đã nâng cách làm Khinkali lên hàng nghệ thuật. Bánh có vị nhẹ nhàng, cay cay, nhân thịt được trộn với rau thơm và một số thảo mộc đặc biệt của vùng núi Tushetia. Chẳng hạn như hạt thì là của miền núi có hương thơm khác lạ hơn so với loại thì là Ai Cập. Làm thế nào để ghi chép được hết hàng ngàn loại ravioli trên khắp thế giới. Khi bắt tay viết một quyển sách « RavioLivre » với chủ đề phổ quát như vậy, tác giả Emmanuel Guillemain d'Echon cho biết ông đã tự đặt ra một số tiêu chuẩn nhằm hạn chế phạm vi tìm kiếm của mình : Vâng, tôi phải tự giới hạn mình, loại trừ những món bánh chiên hoặc bánh nướng. Bằng không, quyển sách sẽ có đến hàng ngàn trang và cần có thêm nhiều tập. Tại nhiều nước châu Á, các loại bánh bao nhỏ có thể được chiên hay hấp. Thổ Nhĩ Kỳ có loại bánh Manti, người Nhật Bản thường làm bánh Gyoza, bánh được luộc rồi chiên áp chảo. Ở Bắc Phi, cũng có loại bánh brik, bánh pastel ở Senegal, sambosa ở Madagascar, nhưng các loại này gần giống với bánh chiên samossa của Trung Á và Ấn Độ. Vì thế cho nên tôi đưa ra một số tiêu chí rõ ràng : thứ nhất, khổ bánh...
    続きを読む 一部表示
    9 分
  • Góc vườn âm nhạc tưởng niệm giọng ca huyền thoại Dolly Parton
    2026/09/05

    Một mái tóc bồng bềnh vàng óng ánh như lúa mì trong nắng, làn son môi lúc nào cũng đỏ chói cho nụ cười thêm tươi rói. Vóc dáng của Dolly Parton càng trở nên quen thuộc với công chúng nhờ những bộ trang phục tươi sáng, lấp lánh. Gương mặt khả ái ấy giờ đây không còn nữa. Danh ca Dolly Parton đã qua đời vì bệnh ung thư hôm 25/08/2026 vừa qua tại Nashville, hưởng thọ 80 tuổi.

    Được mệnh danh là nữ hoàng dòng nhạc đồng quê, Dolly Parton (1946-2026) sinh trưởng trong một gia đình đông con tại bang Tennessee, Hoa Kỳ. Từ năm lên 10, bà đã di biểu diễn trong các chương trình truyền hình và thường xuyên hát trên đài phát thanh địa phương ở Knoxville, Tennessee. Nhân một buổi biểu diễn, bà đã có cơ hội gặp ca sĩ kiêm tác giả nổi tiếng Johnny Cash. Chính ông là người đã khuyến khích Dolly, lúc bấy giờ mới 13 tuổi, nên đeo đuổi con đường âm nhạc.

    Năm 21 tuổi, DollyParton thu hút sự chú ý khi phát hành album đầu tay "Hello, I'm Dolly" (1967) do chính bà sáng tác và ghi âm. Đến đầu thập niên 1970, sự nghiệp ca hát của Dolly thực sự cất cánh với nhiều bài hát ăn khách như "Jolene, Here you come again, 9 to 5, Coat of Many Colors" và nhất là "I will always love you", được viết hầu như cùng lúc với bài "Jolene".

    Ca khúc nhạc đồng quê kinh điển này được Dolly Parton thu âm lần đầu tiên vào năm 1974. Gần hai thập niên sau đó (1992), Whitney Houston thể hiện lại theo phong cách nhạc pop trữ tình cho bộ phim "The Bodyguard". Nhờ vậy, Dolly Parton trở thành tác giả của một trong những bài hát bán chạy nhất mọi thời đại.

    Trong vòng 60 năm sự nghiệp, Dolly Parton đã phát hành hơn 60 album phòng thu và sáng tác hơn 3.000 bài hát, trong đó có khoảng một phần ba đã được ghi âm, vì ngoài những bản nhạc ăn khách của mình, Dolly Parton còn sáng tác nhạc cho nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác (Merle Haggard, Kenny Rogers, Hank Williams Jr, Emmylou Harris hay Skeeter Davis .....)

    Với thời gian, Dolly Parton trở thành một trong những nghệ sĩ thành công nhất trong lịch sử dòng nhạc country với hơn 100 triệu đĩa hát được bán trên thị trường, 26 đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng Billboard của Mỹ và 11 giải Grammy, nhưng bà vẫn là một gương mặt hiếm hoi, từ lúc còn sống, đã được đưa vào Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Đồng quê (1999) cũng như Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll (2022) cho dù lúc đầu, Dolly Parton đã từ chối đề cử này vì bà nghĩ rằng mình không xứng đáng với một giải thưởng nhạc rock.

    Album cuối cùng của Dolly Parton phát hành cuối năm 2023 mang tựa đề "Rockstar" (Ngôi sao nhạc rock) đánh dấu sự hợp tác của bà với những tên tuổi lẫy lừng nhất làng nhạc rock như Paul McCartney, Ringo Starr, Sting, Elton John, Stevie Nicks, Sheryl Crow hay Miley Cyrus ....

    Tầm ảnh hưởng của Dolly Parton không chỉ dừng lại ở âm nhạc, vì ngoài ca hát bà còn từng đóng phim, sản xuất show truyền hình. Nhờ tài kinh doanh, bà làm ăn thành đạt trong nhiều lãnh vực khác, nhưng quan trọng hơn nữa, bà là một nghệ sĩ có tam lòng nhân hậu. Dolly Parton thường hay tặng tiền cũng như vận động quyên góp nhằm giúp đỡ các gia đình nghèo ở Mỹ, giúp họ vượt qua khó khăn, hoạn nạn hay bị trắng tay sau những đợt thiên tai, đồng thời bà luôn hỗ trợ giáo dục thông qua chương trình "Imagination Library" tặng sách cho trẻ em trên thế giới.

    Có lẽ cũng vì thế trong mắt công chúng Mỹ, nữ hoàng dòng nhạc country không chỉ đơn thuần là một biểu tượng của làng giải trí. Dolly Parton còn là môt tâm hồn độc đáo, vĩ đại hơn cả đời thường, nhưng không bao giờ làm cho những người xung quanh mình cảm thấy nhỏ bé, đáng thương. Một con người vui tính, tốt bụng, đa tài mà vẫn khiêm tốn. Dù nay đã ra đi, nhưng Dolly vẫn để lại cho nước Mỹ một nguồn ánh sáng tưởng chừng bé tí, nào ngờ đâu vĩ đại, diệu kỳ.

    続きを読む 一部表示
    9 分
  • Các nhà văn nữ nổi tiếng nhờ viết truyện trinh thám
    2026/08/28
    Mỗi lần nhắc tới truyện trinh thám, hầu như mọi người đều nghĩ tới Agatha Christie. Với hơn 2 tỷ quyển sách được bán trong một thế kỷ qua, Agatha Christie là nhà văn được đọc nhiều nhất trên thế giới, chỉ sau văn hào Shakespeare. Tuy vậy, tác giả người Anh này không phải là phụ nữ đầu tiên thành danh nhờ sáng tác tiểu thuyết về các vụ án mạng bí ẩn, ly kỳ. Trong làng văn học, ngòi bút đầu tiên được cho là đã khai sinh thể loại trinh thám chính là Edgar Allan Poe. Vào đầu những năm 1840, nhà văn người Mỹ đã đặt nền móng cho phương pháp điều tra hiện đại và lối suy luận logic thông qua ba tập truyện ngắn với nhân vật hiệp sĩ Auguste Dupin. Khoảng hai thập niên sau (1860), nhà văn người Pháp Émile Gaboriau gợi hứng từ cách viết của Poe để sáng tác truyện dài với vào năm 1866 viên thanh tra Lecoq trong tác phẩm « L'Affaire Lerouge » (Vụ án goá phụ Lerouge), ông trở thành cha đẻ của tiểu thuyết trinh thám tiếng Pháp. Chính viên thanh tra Lecoq đã gợi hứng cho bác sĩ Arthur Conan Doyle sáng chế ra thám tử Sherlock Holmes và nhân vật này đã giúp cho truyện trinh thám trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới, từ cuối những năm 1880. Về phía các nhà văn nữ, Agatha Christie đã cho ra mắt độc giả quyển tiểu thuyết đầu tiên (Vụ án bí ẩn ở Styles) vào năm 1920. Có thể nói là cả hai nhân vật hư cấu Hercule Poirot và Miss Marple đều đã ra đời nhiều thập niên sau hai thám tử Lecoq cũng như Sherlock Holmes. Thật ra, hầu như vào cùng một thời với Conan Doyle, đã có một số nhà văn nữ nổi tiếng nhờ viết truyện trinh thám, chỉ có điều là tên tuổi của họ không được lưu truyền cho đến tận ngày nay. Hơn nữa, Agatha Christie tựa như một cây đại thụ trong làng văn học, cái bóng quá lớn của bà che khuất hẳn tác phẩm của những ngòi bút nữ đi trước. Có lẽ để bù đắp phần nào thiếu sót này, tác giả người Pháp François Rivière gần đây đã cho phát hành quyển tiểu luận « De l'Assassinat considéré comme une affaire de Femmes », tạm dịch « Khi phụ nữ quan tâm đến các vụ án mạng », nhà xuất bản Calmann-Lévy. Cách đây vài năm, ông François Rivière đã viết một quyển tiểu sử khá đầy đủ về nữ hoàng trinh thám Agatha Christie. Lần này, quyển tiểu luận dành cho các nhà văn nữ (chủ yếu là các tác giả Anh-Mỹ) từng đóng góp khá nhiều cho thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết trinh thám kể từ giữa thế kỷ XIX. Những ngòi bút tiên phong này đã mở đường sau đó cho nhiều văn nữ khác thành công trong thể loại hồi hộp trinh thám cũng như điều tra hình sự. Trong số này, phải kể đến các tác giả người Mỹ như Patricia Highsmith tác giả của các tập truyện xung quanh nhân vật Mr. Ripley (1950) hay Patricia Cornwell (1990). Về phía Anh, có các ngòi bút như P.D James (1960) hay Ruth Rendell (1970). Còn tại Pháp, có các nhà văn nữ như Danielle Thiéry, Karine Giebel, Céline Denjean và nhất là Fred Vargas, nổi tiếng từ những năm 1990 trở đi. Được xem như cánh chim đầu đàn dòng truyện trinh thám của Pháp, nhà văn Fred Vargas nổi bật nhờ lối viết đậm chất văn chương, cuộc điều tra vận dụng nhiều suy nghĩ và thường không có cảnh máu me, chết chóc. Xây dựng xung quanh viên thanh tra Adamsberg, tiểu thuyết của Fred Vargas đã nhiều lần được chuyển thể thành phim truyền hình. Nội dung tác phẩm ít tập trung vào các màn săn lùng hồi hộp, rượt đuổi nghẹt thở mà lại tạo ra một bầu không khí bí ẩn bao trùm, kết nối những chi tiết tầm thường, tưởng chừng nhỏ nhặt rời rạc để rồi dẫn đến cái kết thú vị bất ngờ. Về phần các nữ tác giả tiên phong trong việc viết truyện trinh thám vào giữa thế kỷ XIX, tác giả quyển tiểu luận François Rivière, nhân dịp trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, cho biết đã có khá nhiều ngòi bút nữ từ giai đoạn khai sinh tiểu thuyết, nhưng sau đó họ lại bị lãng quên dần dần, tác phẩm ít còn được tái bản : « Một trong những gương mặt đã khai sinh dòng tiểu thuyết trinh thám ở Mỹ chính là nhà văn Anna Katharine Green. Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, thân phụ là một luật sư ...
    続きを読む 一部表示
    9 分
  • Nhạc Nhật lời Việt : Masahiko Kondō, khúc ca chiều tà tan vỡ tình ta
    2026/08/22
    Thập niên 1980 được xem là thời kỳ hoàng kim của các thần tượng nhạc pop Nhật Bản. Trong số này, có ca sĩ kiêm diễn viên, Masahiko Kondō đồng thời ông là một tay đua xe chuyên nghiệp nổi tiếng. Bài hát gắn liền với tên tuổi của ông chính là « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà), còn được gọi là « Thiên thiên khuyết ca ». Trong chương trình tuần này, có liên khúc Tịch dương chi ca với nhạc phẩm Hạnh phúc nơi nào. Thập niên 1980 được xem là thời kỳ hoàng kim của các thần tượng nhạc pop Nhật Bản. Trong số này, có ca sĩ kiêm diễn viên, Masahiko Kondō đồng thời ông là một tay đua xe chuyên nghiệp nổi tiếng. Bài hát gắn liền với tên tuổi của ông chính là « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà), còn được gọi là « Thiên thiên khuyết ca ». Trong chương trình tuần này, có liên khúc Tịch dương chi ca với nhạc phẩm Hạnh phúc nơi nào. Sinh trưởng (1964) tại Yokohama, tỉnh Kanagawa, Masahiko Kondō khởi đầu sự nghiệp ca hát và diễn xuất vào cuối thập niên 1970, thời ông gia nhập công ty Johnny & Associates, một trong những tập đoàn giải trí quan trọng của Nhật Bản. Thời niên thiếu, ông là thành viên của bộ ba Tanokin Trio (cùng với hai ngôi sao khác là Toshihiko Tahara và Yoshio Nomura). Nhóm này đã gặt hái được khá nhiều thành công nhờ phim truyền hình và show ca nhạc. Vào năm 17 tuổi, Masahiko Kondō rời khỏi nhóm và chính thức ra mắt đĩa đơn solo đầu tiên (Sneaker Blues). Ca khúc này ngay lập tức đứng đầu bảng xếp hạng Oricon, ông trở thành nghệ sĩ trẻ tuổi nhất giành lấy vị trí quán quân ngay từ khi ra mắt đĩa hát đầu tay. Trong suốt thập niên 1980, Masahiko Kondō ghi âm hàng loạt bản hit đình đám như « Gingiragin ni Kuchiganai » và « Foolish ». Nhưng khi nhắc đến những giai điệu ăn khách của giọng ca này từng được chuyển sang lời Việt, tác phẩm nổi tiếng và có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất chính là ca khúc « Yūyake no Uta » (Khúc ca chiều tà) do Koji Makaino và Akira Otsu sáng tác vào năm 1989. Ngoài xứ hoa anh đào, giai điệu « Yūyake no Uta » còn thành công trên thị trường châu Á nhờ được phóng tác nhiều lần sang tiếng Hoa, lập kỷ lục số bán qua hai phiên bản nhạc pop tiếng Quảng Đông tại Hồng Kông (Cantopop). Đầu tiên là nhạc phẩm « Thiên thiên khuyết ca » của Trần Tuệ Nhàn và kế đến nữa là « Tịch dương chi ca » của Mai Diễm Phương. Năm 1988, vào lúc Trần Tuệ Nhàn chuẩn bị giã từ làng nhạc, hãngđĩa PolyGram đã cho phát hành một số ca khúc « chia tay » người hâm mộ, trong đó có nhạc phẩm « Thiên thiên khuyết ca » (Muôn ngàn bài hát) do tác giả Lâm Chấn Cường đặt lời tiếng Quảng Đông và hoàn chỉnh vào đầu năm 1989. Cảm xúc trầm lắng u buồn, cùng giai điệu từ biệt vấn vương đã giúp bài hát này thành công nhanh chóng trên thị trường. Còn trong trường hợp của Mai Diễm Phương, vào thời ấy, cô đang quay tập ba của bộ phim « Bản sắc anh hùng » (A better tomorrow III) và do Mai Diễm Phương lúc bấy giờ có quan hệ tình cảm với nam danh ca Nhật Bản Masahiko Kondō (người ghi âm bản nhạc gốc), cho nên cô mới đề nghị lấy bài hát này làm ca khúc chủ đề cho bộ phim. Tác giả Trần Thiếu Kỳ đã viết lại thành nhạc phẩm « Tịch dương chi ca » (Bài ca hoàng hôn) và chỉnh sửa lời bài hát sao cho phù hợp với cốt truyện. Dù có cùng một giai điệu gốc và được phát hành hầu như vào cùng một thời điểm, nhưng cả hai bản cover « Thiên thiên khuyết ca » của Trần Tuệ Nhàn (Priscilla Chan) và « Tịch dương chi ca » của Mai Diễm Phương (Anita Mui) đều trở thành những nhạc phẩm kinh điển của dòng nhạc pop tiếng Quảng Đông. Một chi tiết thú vị khác là nam ca sĩ Trương Quốc Vinh (Leslie Cheung) cũng từng hát lại bài này, cho dù anh không xuất hiện trong tập phim thứ 3 của « Bản sắc anh hùng », bên cạnh Mai Diễm Phương, Châu Nhuận Phát và Lương Gia Huy. Khi du nhập vào Việt Nam vào đầu thập niên 1990, ca khúc đã được đặt thêm nhiều lời Việt khác nhau. Bài đầu tiên có tựa đề « Tan vỡ » là của tác giả Minh Tâm do Cẩm Ly & Tài Linh thể hiện. Lời thứ nhì...
    続きを読む 一部表示
    9 分
  • Từ Bangkok đến Paris : Hành trình của trang phục hoàng cung Thái Lan
    2026/08/21
    Dưới dấu ấn của hoàng hậu Sirikit và sự hợp tác với nhà thiết kế Pháp Pierre Balmain, trang phục Thái Lan được nâng tầm thành thời trang cao cấp và trở thành biểu tượng văn hóa trong các hoạt động ngoại giao quốc tế. Gần 200 bộ trang phục và hiện vật hoàng gia Thái Lan được giới thiệu trong triển lãm “Thời trang hoàng cung” tại Bảo tàng Nghệ Thuật Trang trí Paris từ ngày 13/05 đến 01/11/2026. Phần lớn hiện vật đến từ Bảo tàng Dệt may Hoàng hậu Sirikit (QSMT) tại Bangkok, trong đó có khoảng 100 bộ do Pierre Balmain thiết kế và khoảng 40 bộ từng được hoàng hậu Sirikit sử dụng. Ngoài ra, nhiều hiện vật, bản vẽ, tư liệu lưu trữ từ Nhà Balmain, Lesage và các đối tác cũng góp phần làm nổi bật sự kết hợp giữa nghệ thuật thời trang Pháp, kỹ thuật thủ công tinh xảo và di sản văn hóa hoàng gia Thái Lan. Thời trang hoàng gia Thái Lan đã phát triển như thế nào từ thập niên 1960 ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn bà Béatrice Quette, giám tuyển triển lãm, phụ trách bộ sưu tập châu Á và Hồi giáo tại Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí (Musée des Arts décoratifs). RFI : Gần 200 trăm bộ trang phục và phụ kiện đặc sắc từ cung đình Thái Lan được trưng bày tại Bảo tàng Nghệ thuật Trang trí trong triển lãm “Thời trang hoàng cung”. Tựa đề giàu ý nghĩa này muốn nhấn mạnh điều gì ? Giữa “thời trang” và “hoàng cung” có mối quan hệ như thế nào ? Béatrice Quette : “Thời trang hoàng cung” là tựa đề chính của triển lãm, những cũng có tựa đề phụ là “Thời trang cao cấp và truyền thống tại hoàng cung Thái Lan” giúp khám phá mối quan hệ giữa thời trang và hoàng gia thông qua vai trò của hoàng hậu Sirikit trong việc khôi phục trang phục truyền thống Thái Lan. Bà muốn xây dựng hình ảnh một hoàng hậu trẻ trung, hiện đại nhưng vẫn mang đậm dấu ấn dân tộc trong chuyến công du cùng quốc vương Rama IX tới 14 quốc gia châu Âu và Hoa Kỳ vào năm 1960. Để đáp ứng yêu cầu vừa phù hợp với nghi thức ngoại giao quốc tế, vừa thể hiện bản sắc Thái Lan, từ những năm 1950, hoàng hậu Sirikit đã bắt đầu nghiên cứu và phục hồi trang phục cung đình truyền thống, vốn bị mai một từ đầu thế kỷ XX. Bà tìm hiểu tư liệu lưu trữ, hình ảnh về các hoàng hậu, công chúa từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, đặc biệt dưới triều vua Rama V (ông nội của vua Rama IX), sau đó kết hợp những yếu tố truyền thống với kỹ thuật may đo hiện đại để tạo ra trang phục mang phong cách vừa thanh lịch, vừa thể hiện rõ bản sắc Thái Lan. Mục tiêu của bà là xây dựng một biểu tượng trang phục quốc gia tương tự như kimono của Nhật Bản hay sari của Ấn Độ. Nội dung triển lãm được xây dựng theo hai hướng chính. Thứ nhất, thời trang được nhìn nhận như một phương tiện ngoại giao văn hóa, hay “quyền lực mềm”, giúp quảng bá hình ảnh và bản sắc Thái Lan. Thứ hai, triển lãm giới thiệu quá trình hình thành tám kiểu trang phục chính thức của hoàng hậu Sirikit, đồng thời làm nổi bật sự kết hợp giữa thời trang cao cấp phương Tây và nghệ thuật truyền thống Thái Lan thông qua mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa bà và nhà thiết kế người Pháp Pierre Balmain. RFI : Có thể nhận thấy sự thanh lịch và tinh tế của thời trang Pháp trong các trang phục hoàng gia Thái Lan. Đồng thời, trang phục truyền thống Thái Lan cùng các kỹ thuật dệt và nhuộm thủ công cũng đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia, được biết đến trong giới thời trang cao cấp của Pháp. Như bà vừa đề cập một phần, người có vai trò quyết định trong quá trình đó chính là hoàng hậu Sirikit. Bà đã góp phần như thế nào vào sự phát triển và quảng bá thời trang Thái Lan trên trường quốc tế ? Béatrice Quette : Hoàng hậu Sirikit đóng vai trò vô cùng quan trọng. Bà rất yêu thích thời trang, nhưng không đơn thuần chỉ là mặc những trang phục đẹp mà còn xem thời trang là công cụ để giữ gìn văn hóa. Bên cạnh những chuyến công du ngoại giao tới phương Tây, bà thường xuyên đi khắp đất nước để tìm hiểu đời sống của người dân. Qua những chuyến đi này, bà nhận thấy tại...
    続きを読む 一部表示
    10 分
  • Nhạc Pháp lời Việt : Lại gần hôn anh, phiên bản tiếng Pháp đầu tiên là của ai ?
    2026/08/15

    Cùng với "Un canto a Galicia", nhạc phẩm "Abrázame" là giai điệu đã giúp cho nam danh ca Julio Iglesias chinh phục thị trường quốc tế. Được trích từ album phòng thu thứ 9 (El Amor / Tình yêu) phát hành vào năm 1975, bài hát này từng được dịch sang 12 ngôn ngữ khác nhau, kể cả tiếng Anh, Hy Lạp hay tiếng Nhật. Còn trong tiếng Việt, giai điệu này nghe rất quen thuộc với tựa đề "Lại gần hôn anh".

    Khi chấp bút đặt ca từ lời Việt lãng man trữ tình, nồng nàn tha thiết, nhạc sĩ Phạm Duy chủ yếu dựa vào phiên bản tiếng Pháp "Viens m'embrasser" do Michel Jourdan sáng tác vào năm 1981. Trong nguyên tác, bài hát tiếng Tây Ban Nha do Rafael Ferro soạn nhạc, Julio viết lời. Thế nhưng, bản phóng tác tiếng Pháp đầu tiên không phải do Julio Iglelias trình bày mà lại do một gương mặt trứ danh khác ghi âm : đó là nam danh ca Richard Anthony.

    Sinh trưởng tại Ai Cập trong một gia đình giàu có người gốc Syria, Richard Anthony thành danh vài năm trước thế hệ thần tượng Françoise Hardy, Christophe và Johnny Hallyday. Theo lời kể của Sylvie Vartan, nhạc phẩm Nouvelle Vague (Làn sóng mới) dịch từ ca khúc "Three Cool Cats" của cặp bài trùng Jerry Leiber và Mike Stoller, đã khởi xướng trào lưu phóng tác các bản nhạc rock và twist ăn khách tiếng Anh, tạo ra phong trào nhạc trẻ tại Pháp đầu thập niên 1960.

    Đến những năm 1970, Richard Anthony không còn hát nhạc trẻ mà lại chuyển sang hát nhạc tình. Khi không bận lưu diễn, ông thường về miền nam Tây Ban Nha nghỉ ngơi, nơi gia đình ông có một biệt thự sang trọng tại trạm nghỉ mát Marbella. Cho đến một ngày kia, ông tình cờ được nghe trên đài phát thanh bài hát "Abrazame" của Julio. Do rất thích giai điệu này, cho nên ông mới gọi điện về Paris yêu cầu nhóm tác giả nổi tiếng nhất thời bấy giờ chuyển bài hát của Julio Iglesias sang tiếng Pháp.

    Người đầu tiên nhận lời chính là Pierre Delanoë, ông từng thành công nhờ viết lời bài hát "La Maritza" (Dòng sông tuổi nhỏ) cho Sylvie Vartan và "Et si tu n'existais pas" (Nếu đời này vắng anh / Một mai không có anh) cho Joe Dassin. Khi chấp bút viết lời tiếng Pháp, Pierre Delanoë chuyển bài "Abrázame" thành nhạc phẩm "Embrasse Moi" (Hãy hôn anh). Cách đặt lời của Pierre Delanoë tôn trọng ngữ pháp của bản nhạc gốc, trong cách dùng thức mệnh lệnh một cách trực tiếp. Richard Anthony thu âm bài này vào năm 1977, tức 4 năm trước phiên bản tiếng Pháp của Julio Iglesias.

    Về phần nam danh ca Tây Ban Nha, nhiều năm sau khi thành công với album phòng thu thứ 9, Julio mới bắt tay thực hiện tuyển tập chọn lọc "Fidèle" (Chung tình) dành cho thị trường Pháp ngữ. Lần này, Julio không dùng bản phóng tác có sẵn của Delanoë mà lại nhờ nhóm sáng tác Claude Lemesle và Michel Jourdan chuyển sang tiếng Pháp các bài hát ăn khách của mình.

    Album tiếng Pháp của Julio được phát hành vào năm 1981, bao gồm nhiều bản nhạc nổi tiếng như Khúc tình dối gian (Les dérobades) hay Tình yêu còn mãi (Un jour tu ris, un jour tu pleures). Riêng nhạc phẩm "Abrázame" được Michel Jourdan chuyển thành bài hát "Viens m'embrasser", tạo ra một khoảng cách nhất định giữa hai nhân vật chính, nếu muốn hôn nhau thì phải xích lại gần bên người tình.

    Có thể nói, phiên bản phóng tác tiếng Pháp đầu tiên là của Pierre Delanoë do Richard Anthony trình bày, còn phiên bản thứ nhì là của Michel Jourdan do chính Julio ghi âm. Cả hai bài hát đều vô cùng trữ tình ướt át, nhưng bản ghi âm tiếng Pháp của Julio Iglesias vẫn quen thuộc hơn với giới yêu nhạc.

    Trong cả hai phiên bản tiếng Pháp, "Lại gần hôn anh" tựa như lời khẩn cầu tha thiết của một người tình khi phải đối mặt với cảnh chia ly, chỉ mong được ôm trong vòng tay như thuở ban đầu, một cách để tự dối mình khi mai này đành phải mất nhau, nhưng miễn sao làm vơi nhẹ nỗi đau, cho hồn quên nhức nhối, cho tim bớt nghẹn ngào.

    続きを読む 一部表示
    9 分
  • Sherlock Holmes, thám tử đầu tiên được đưa vào tủ sách Pháp La Pléiade
    2026/08/14
    Gần 150 năm sau khi ra đời dưới ngòi bút của nhà văn Arthur Conan Doyle, thám tử Sherlock Holmes vẫn giữ nguyên sức cuốn hút mạnh mẽ. Ngoài là nguồn cảm hứng bất tận cho điện ảnh và truyền hình, nhân vật này còn trở thành một huyền thoại văn học. Tại Pháp, chỉ có các tác phẩm quan trọng hàng đầu mới được đưa vào bộ sưu tập La Bibliothèque de la Pléiade. Gần đây, nhà xuất bản Gallimard đã cho xuất bản trong tủ sách có uy tín của mình bộ toàn tập Sherlock Holmes. Tính tổng cộng là 2.500 trang chia thành 2 tập sách dày, bao gồm bốn cuốn tiểu thuyết và 60 truyện ngắn. Bộ toàn tập này được phát hành kèm với một quyển tiểu sử minh họa dày hơn 250 trang. Đây là lần đầu tiên, tủ sách La Pléiade của nhà xuất bản Gallimard dành một quyển « tiểu sử » đặc biệt, kể lại nguồn gốc của một nhân vật hư cấu cũng như những câu chuyện bên lề và tầm ảnh hưởng của Sherlock Holmes trong dòng văn hóa đại chúng. Điều mà Hercule Poirot và Miss Marple của nữ hoàn tiểu thuyết trinh thám Agatha Christie vẫn chưa thực hiện được. Tác giả quyển tiểu sử "Sherlock Holmes" là ông Baudouin Millet, giảng viên chuyên khoa Văn học Anh và Dịch thuật tại Đại học Lumière Lyon II. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Baudouin Millet phác họa vài nét chính của thám tử Sherlock Holmes. Sherlock Holmes là một thiên tài có khả năng giải quyết các vấn đề trong vụ án một cách dễ dàng đến mức khó tin, thậm chí ông còn hay nói đùa, có thể làm bẽ mặt những viên thanh tra của Scotland Yard bằng những câu nói như : "Chuyện đơn giản thôi!" hoặc "Anh chẳng hiểu gì cả'', ''Bộ não của anh sao mà nhỏ bé thế''. Có người cho là Sherlock Holmes có một bộ óc xuất chúng, có tài suy luận mạch lạc sắc bén, dựa trên nền tảng logic chặt chẻ, chứ không phỏng đoán mơ hồ. Nhờ vậy, ông giải quyết được các manh mối phức tạp, phá án nhanh để tìm ra thủ phạm. Nhưng theo tôi, Sherlock Holmes có một tư tưởng cởi mở phóng khoáng thiên về nghệ thuật hơn là khoa học. Để phá án, nhân vật này không ngại phá vỡ một số quy tắc, thoát ra ngoài lối suy nghĩ cứng nhắc. Ngoài ra, lối tiếp cận của ông thường được so sánh với một nhà khoa học pháp y, vì những phương pháp giám định của ông đã báo trước các kỹ thuật hiện đại của giới cảnh sát điều tra sau này. Ngay tại căn nhà của ông ở số 221B phố Baker Street, Sherlock Holmes thường hay tiến hành thử nghiệm dùng phương pháp hóa học để đi tìm vết tích bằng chứng, nhưng đồng thời ông cũng phải biết suy luận chặt chẽ để vạch trần tâm lý kẻ phạm tội. Một thiên tài xuất chúng chưa chắc gì đã dễ sống chung. Ngay từ lần xuất hiện đầu tiên vào năm 1887 trong truyện "A Study in Scarlet" cho đến những chuyến phiêu lưu cuối cùng được xuất bản năm 1927, trong đó có vụ án nổi tiếng nhất của ông là "The Hound of the Baskervilles" (1902), có thể nói Sherlock Holmes không phải là một người dễ mến với bà chủ nhà (Mrs Hudson) cũng như với người bạn và cộng sự của mình là bác sĩ John Watson. Trong truyện, Sherlock Holmes có tánh tình thay đổi khác thường. Theo tác giả Baudouin Millet, trong mắt của giới chuyên khoa tâm thần học thời nay, nhân vật tiểu thuyết này có triệu chứng của một người bị rối loạn lưỡng cực : Vâng, thuật ngữ rối loạn lưỡng cực chỉ mới được công nhận gần đây. Trước đó, giới bác sĩ từng nhắc đến chứng bệnh ''hưng trầm cảm'' cho đến những năm 1990. Dựa theo cách phân loại mới về các chứng bệnh tâm thần, các chuyên gia nói về triệu chứng rối loạn lưỡng cực khi những giai đoạn cực kỳ hưng phấn đột nhiên biến thành những khoảnh khắc vô cùng trầm cảm. Những đột biến nội tâm này thường không có dấu hiệu báo trước. Trong truyện Sherlock Holmes, câu chuyện được kể theo góc nhìn của bác sĩ Watson và dĩ nhiên ông Watson không dùng chữ rối loạn lưỡng cực vì thuật ngữ này chưa ra đời. Nhưng bác sĩ Watson lại mô tả một cách rõ ràng các triệu chứng hưng cảm rồi trầm cảm của Sherlock Holmes, đặc biệt là trong quyển sách ''The Sign of Four'' (1890). Cũng...
    続きを読む 一部表示
    9 分
  • Nhạc Nhật lời Việt : Marcia và nhạc phẩm "Khi thành phố vắng anh"
    2026/08/08

    Đất nước Brazil là nơi có đông đảo người Nhật định cư. Xuất thân từ cộng đồng hải ngoại, nhiều nghệ sĩ gốc Nhật đã thành danh nhờ tài nghệ sáng tác hay biểu diễn trên sân khấu. Đó là trường hợp của tay đàn ghi ta Mateus Asato, nhạc trưởng Naomi Munakata, tác giả Lisa Ono, ca sĩ Carlos Toshiki thành viên sáng lập nhóm Omega Tribe và nhất là Marcia, một trong những ngôi sao nhạc trẻ những năm 1990.

    Sinh trưởng tại thành phố São Paolo, Marcia xuất thân từ một gia đình người Nhật định cư tại Brazil từ nhiều đời qua. Vào năm 16 tuổi, cô bắt đầu sự nghiệp trong làng giải trí sau khi về hạng nhì nhân một cuộc thi tuyển lựa tài năng mới năm 1985 (Kayou Senshuken) với sự tài trợ của đài truyền hình TBS, thuộc tập đoàn truyền thông Tokyo Broadcasting System ở vùng Kantō.

    Do chưa đến tuổi trưởng thành, nên Marcia được ông nội đưa từ Brazil sang Nhật Bản học tập.Thời gian đầu, cô học hát dưới sự hướng dẫn của nhà soạn nhạc kỳ cựu Kosho Inomata và học lớp diễn xuất với thầy Sakamoto Fuyumi.

    Đầu năm 1989, Marcia vừa tròn 20 tuổi cho ra mắt đĩa hát đầu tay với tựa đề "Furimukeba Yokohama" (Nhìn lại Yokohama). Do hai tác giả đồng sáng tác : Kosho Inomata (nhạc) Eiji Takino (lời), đĩa đơn này đã mang về cho Marcia nhiều giải thưởng quan trọng, trong đó có giải dành cho Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất trong năm (Nihon Record Taishou). Trong tiếng Việt, giai điệu này từng được tác giả Khúc Lan đặt lời thành nhạc phẩm "Mộng sầu cô đơn".

    Từ những năm 1990 trở đi, Marcia ngày càng trở nên nổi tiếng. Tên tuổi của cô được biết đến rộng rãi không những qua đĩa hát mà còn qua phim ảnh, show truyền hình, chương trình tạp kỹ hay các vở nhạc kịch. Còn trên phương diện âm nhạc, Marcia thành công với khá nhiều bài hát trích từ 12 album phòng thu thực hiện trong vòng hai thập niên liền (1989-2009).

    Trong số những bài hát ăn khách nhất của Marcia, ngoài nhạc phẩm "Mộng sầu cô đơn", còn có "My love goodbye" (Tạm biệt người tình) và nhất là "Dakishimete" (trong tiếng Nhật có nghĩa là Hãy ôm em). Bài này từng được chuyển sang tiếng Việt thành nhạc phẩm "Khi thành phố vắng anh".

    Một số nhà phê bình cho rằng lối thể hiện của Marcia mang nhiều ảnh hưởng của diva Đài Loan Đặng Lệ Quân, trong cách nhả chữ thanh thoát nhẹ nhàng, tao nhã tơ vương. Nhưng thật ra, Marcia lại chịu ảnh hưởng của thế hệ trước đó nữa, qua giọng ca thần tượng Hibari Misora, người mà Đặng Lệ Quân thường hay nghe thời niên thiếu.

    Một chi tiết thú vị là tên thật của danh ca Hibari Misora là Kazue Kato. Gia đình Marcia rất hâm mộ giọng ca này cho nên đã chọn tên thật của thần tượng để đặt cho cô con gái. Tên gọi đầy đủ của Marcia chính là Marcia Kazue Nishiie.

    Chi tiết thú vị thứ nhì là Marcia đã ra đời vào ngày 14 tháng Hai năm 1969. Do sinh nhật của cô trùng với ngày Lễ Tình nhân, cho nên Marcia thường hay nói đùa rằng không hiểu vì sao từ khi còn nhỏ, cô chỉ thích nghe và thích hát nhạc tình :

    Ngước mắt nhìn hoàng hôn

    Mà nghe tim chợt buồn

    Tình chẳng còn ham muốn

    Cho hồn càng buồn hơn

    Nhìn những hạt mưa tuôn

    Trên khung cửa mù sương

    Tương lai nhoà vết xoá

    Mờ chân trời yêu thương

    Nhịp mưa khúc nhạc buồn

    Điệu bossa phiền muộn

    Hãy cho nhau lần cuối

    Đắm đuối ngàn nụ hôn

    続きを読む 一部表示
    9 分