エピソード

  • Du lịch một mình nhưng vẫn có "hội" : Xu hướng đang bùng nổ tại Pháp
    2026/09/04
    “Xách ba lô lên, bạn đồng hành đã có chúng tôi lo” (Prends ton sac à dos, on amène les amis), “Du lịch theo nhóm nhỏ cùng bạn đồng trang lứa” (Voyagez en petits groupes, avec des personnes de votre âge)... Những khẩu hiệu ấn tượng trong tàu điện ngầm Paris phản ánh một xu hướng đang bùng nổ tại Pháp : Du lịch một mình nhưng không cô đơn. Rất nhiều công ty lữ hành nắm bắt trào lưu mới, đặc biệt bùng nổ sau đại dịch Covid-19, để tổ chức tour cho “nhóm độc thân xa lạ”. Theo khảo sát được đăng trên Facebook của ngân hàng CIC ngày 09/07/2026, 74% người Pháp từng đi du lịch một mình năm 2026. Du lịch một mình trở thành xu hướng, biểu tượng của tự do, độc lập thay vì bị nhìn theo kiểu “ế nên mới phải đi một mình” như trước đây. Những người đi du lịch một mình là ai ? Léa Bensadoun, phụ trách phát triển khu vực châu Á/châu Âu tại công ty lữ hành Les Covoyageurs hoạt động từ 14 năm nay, trả lời câu hỏi của RFI Tiếng Việt tại Hội chợ Du lịch Thế giới 2026 (Salon Mondial du Tourisme Paris) : “Ngay từ những ngày đầu thành lập công ty, chúng tôi nhận thấy nhu cầu thực sự từ nhóm khách du lịch một mình. Sau đó, nhu cầu du lịch một mình hoặc là giữa những người đi du lịch một mình đặc biệt bùng nổ, nhất là sau đại dịch Covid-19. Khách hàng của chúng tôi không chỉ là những người độc thân mà còn là những người ở thời điểm muốn du lịch nhưng không có bạn bè hoặc người thân sắp xếp được thời gian đồng hành. Họ mong muốn tham gia các chuyến đi theo nhóm mà không nhất thiết phải đi theo cặp hoặc gia đình. Đối tượng khách hàng của chúng tôi thường là từ 35 đến 55 tuổi”. Tự đi vì lên hẹn đi cùng còn khó hơn trúng số Sau nhiều năm bị phong tỏa, hạn chế đi lại, khó khăn kinh tế vì đại dịch Covid-19, nhiều người ưu tiên trải nghiệm cá nhân và không muốn trì hoãn các kế hoạch chỉ vì “rảnh cùng lúc” đôi khi còn “khó hơn trúng số”. Nhiều mô hình du lịch dành riêng cho khách đi một mình đã bùng nổ, theo giải thích của Léa Bensadoun : “Du lịch một mình đang thực sự trở thành một xu hướng ngày càng phổ biến. Đây là năm thứ ba chúng tôi tham gia Hội chợ Du lịch Thế giới và mỗi năm, gian hàng của chúng tôi đều thu hút nhiều khách tham quan hơn. Đặc biệt, lần này, nhiều người chia sẻ rằng ngay khi tới đây, họ chủ động tìm kiếm các công ty chuyên tổ chức các chuyến đi dành cho du khách đi một mình. Tại triển lãm năm ngoái (2025), khái niệm du lịch một mình cũng đã được đưa vào các hoạt động tương tác. Chúng tôi nhận thấy xu hướng này đang phát triển mạnh mẽ. Trong bối cảnh mọi thông tin và dịch vụ đều dễ dàng tiếp cận trực tuyến, ý tưởng được du lịch cùng những người độc thân khác ngày càng trở nên hấp dẫn và độc đáo”. Có thể thấy bốn lý do chính, được trang Tourisme Digital thống kê, giải thích cho xu hướng du lịch một mình : tận hưởng tự do, tập trung vào bản thân, người thân không rảnh vào thời điểm đó, có cơ hội gặp gỡ và kết nối với những người cùng sở thích, cùng ngân sách. Những công ty lữ hành chuyên về mô hình du lịch này trở cầu nối cho những khách hàng đi một mình mà không cô đơn. Vậy làm thế nào để tạo ra sự hòa thuận giữa những thành viên là người hoàn toàn xa lạ với nhau ? “Trên trang web của công ty chúng tôi, những người quan tâm hoặc đã đăng ký một chuyến đi có thể kết nối và trao đổi với nhau ngay từ trước khi khởi hành. Khi tạo tài khoản, khách hàng có thể gửi tin nhắn riêng cho những thành viên khác có cùng sở thích hoặc cùng tham gia một hành trình. Từ đó, các nhóm trao đổi nhanh chóng được hình thành, cho phép mọi người làm quen và chia sẻ thông tin liên lạc. Chúng tôi nhận thấy nhiều du khách trò chuyện với nhau từ rất sớm, giúp xóa bỏ cảm giác e ngại và tạo sự gắn kết trước chuyến đi. Ngoài ra, vì các gói du lịch thường đã bao gồm vé máy bay, chúng tôi khuyến khích khách hàng lựa chọn cùng một chuyến bay để có cơ hội gặp gỡ và làm quen với nhau ngay trước khi tới điểm du lịch”. 90 ...
    続きを読む 一部表示
    10 分
  • Từ "địa ngục Joseon" đến "cường quốc tự tử" - lối thoát nào cho Hàn Quốc
    2026/08/26
    Một nghịch lý đặc biệt trong tiếng Hàn là từ 자살 – “tự tử” – khi đọc ngược lại sẽ thành 살자, nghĩa là “hãy sống” hoặc “chúng ta cùng sống nhé”. Cách chơi chữ này từng được sử dụng như một lời động viên: khi ý nghĩ tuyệt vọng xuất hiện, hãy thử đảo ngược nó để nhắc mình rằng vẫn phải tiếp tục sống. Thế nhưng tại một xã hội thường bị người trẻ mỉa mai gọi là “địa ngục Joseon”, việc lựa chọn sống đôi khi cũng trở thành một cuộc đấu tranh đầy mệt mỏi. Áp lực học tập, cạnh tranh việc làm, giá nhà đắt đỏ, nợ nần, làm việc quá sức, sự cô đơn và nỗi sợ bị bỏ lại phía sau khiến nhiều người cảm thấy dù đã cố gắng đến đâu, cuộc sống vẫn không trở nên dễ dàng hơn. Quốc gia có tỉ lệ tự tử số 1 trong nhóm OECD Hàn Quốc được biết đến với kỳ tích kinh tế, công nghệ hiện đại và sức ảnh hưởng mạnh mẽ của làn sóng Hallyu. Tuy nhiên, quốc gia này đã duy trì tỷ lệ tự tử cao nhất OECD trong hơn hai thập niên. Năm 2024, tỷ lệ tự tử của Hàn Quốc là 23 - 28 người / 100.000 dân, tùy theo tiêu chuẩn tính toán. Tuy nhiên dù tính toán theo phương pháp nào thì tỉ lệ tự tử của Hàn Quốc vẫn cao hơn gấp đôi mức trung bình của khối, điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Vì vậy, tự tử tại Hàn Quốc không còn là bi kịch cá nhân mà đã trở thành một vấn đề y tế công cộng và xã hội. Áp lực thay đổi theo từng giai đoạn của cuộc đời Theo thống kê của Cơ quan Cảnh sát Quốc gia Hàn Quốc năm 2021, các vấn đề tâm lý và tâm thần chiếm tỷ lệ lớn nhất, với khoảng 40%, tiếp theo là khó khăn kinh tế và sinh kế với khoảng 25%, theo sau đó là bệnh tật (18%), gia đình (7%), và áp lực công việc (~4%). Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng cũng thay đổi rõ rệt theo từng độ tuổi. Ở thanh thiếu niên và người trẻ, nguy cơ thường gắn với áp lực học tập, bắt nạt, khó tìm việc, thu nhập bấp bênh và tương lai thiếu ổn định; trong khi người trung niên chịu sức ép lớn từ sinh kế, nợ nần và trách nhiệm gia đình. Với người cao tuổi, bệnh tật, nghèo đói và cô đơn là những yếu tố nổi bật. Nam giới có tỷ lệ tự tử cao hơn do thường phải gánh kỳ vọng về vai trò trụ cột nhưng lại ít chia sẻ cảm xúc và ngại tìm kiếm sự hỗ trợ, khiến khủng hoảng khó được phát hiện sớm. Xã hội đầy sự thù ghét Nhà văn đoạt giải Nobel Han Kang cho rằng tình trạng thù ghét ngày càng lan rộng tại Hàn Quốc và trên thế giới là một thách thức mà xã hội phải cùng nhau vượt qua. Phát biểu bên lề Liên hoan Avignon, bà nhấn mạnh rằng đây là thời điểm con người cần nghiêm túc suy nghĩ về cách thoát khỏi sự chia rẽ và tìm một hướng đi khác, thay vì tiếp tục chìm sâu trong “kỷ nguyên thù ghét”. Tại Hàn Quốc, sự thù ghét không chỉ thể hiện qua xung đột giới tính, thế hệ, khu vực hay chính trị mà còn lan rộng trên mạng xã hội dưới hình thức bôi nhọ, bình luận ác ý và tấn công tập thể. Trong một xã hội vốn chịu nhiều áp lực về thành tích, kinh tế và sự cô đơn, những cuộc công kích này có thể làm trầm trọng thêm khủng hoảng tâm lý ở người dễ tổn thương. Năm 2022, một nữ streamer từng bị các “cyber wrecker” đăng tải nội dung cắt ghép, giật gân và kích động đám đông công kích dù cô đã lên tiếng giải thích. Những lời miệt thị tiếp tục lan rộng trước khi cô qua đời do tự tử, cho thấy bạo lực trực tuyến có thể để lại hậu quả nghiêm trọng ngoài đời thực. Không thể quy một bi kịch cho riêng một nguyên nhân, nhưng việc liên tục bị hàng nghìn người chế giễu, phán xét và cô lập có thể đẩy một người đến cảm giác tuyệt vọng sâu sắc. Bắt nạt từ trường học đến nơi làm việc Bắt nạt, đặc biệt là bắt nạt trên mạng, là một trong những yếu tố xã hội có thể làm gia tăng nguy cơ khủng hoảng tâm lý và ý nghĩ tự tử ở thanh thiếu niên Hàn Quốc. Nghiên cứu của giáo sư Choi Jung-ah thuộc Đại học Kyungil, thực hiện trên 3.775 học sinh trung học cơ sở, cho thấy ngay cả khi đã ...
    続きを読む 一部表示
    11 分
  • 1936-2026 : 90 năm chế độ nghỉ phép có lương và những biến chuyển trong đời sống xã hội Pháp
    2026/08/19
    Năm 2026 là đúng 90 năm chế độ nghỉ phép có lương được áp dụng rộng rãi với người lao động Pháp. Đây là di sản nổi bật của Front Populaire - Mặt trận Bình dân, một liên minh chính trị của các lực lượng cánh tả ở Pháp. Với xuất phát điểm là 2 tuần nghỉ được trả lương vào năm 1936, chế độ này đã kéo theo nhiều thay đổi trong đời sống xã hội tại Pháp, với các hoạt động giải trí, văn hóa … Du lịch đại chúng cũng dần dần phát triển. Để hiểu thêm chế độ nghỉ có lương tại Pháp, một cuộc cải cách mang tính cách mạng cho giới công nhân và người làm công ăn lương vào năm 1936, RFI Tiếng Việt phỏng vấn sử gia Jean Vigreux, chuyên gia về Mặt trận Bình dân, giáo sư trường Đại học Bourgogne Europe của Pháp. RFI : Đâu là bối cảnh xã hội và điều kiện lao động của công nhân tại Pháp đã dẫn đến việc chính quyền thiết lập chế độ nghỉ phép có lương ? Đâu là vai trò của Mặt trận Bình dân vào năm 1936 trong việc thiết lập chế độ này ? Jean Vigreux : Đúng là việc tạo ra chế độ nghỉ phép được hưởng lương là rất quan trọng. Nó không hẳn là đã được lên kế hoạch hay từng đưa vào chương trình hành động của Mặt trận Bình dân. Chương trình tranh cử suy cho cùng là nhằm chống lại cuộc khủng hoảng kinh tế và xã hội, cải thiện điều kiện sống cho giai cấp công nhân, và có thể nói là cho người dân Pháp nói chung. Nhưng chế độ nghỉ phép có lương không có trong chương trình dự kiến từ trước. Và chính sự huy động được đông đảo lực lượng tham gia phong trào đấu tranh, các cuộc đình công với việc chiếm đóng nhà máy, đã khiến thỏa thuận Matignon đạt được nhanh chóng vào đêm 07, ngày 08/06 (năm 1936), một hôm sau khi Léon Blum lên nắm quyền. Chính lúc đó, giới chủ Pháp - Tổng Liên đoàn Sản xuất Pháp (Confédération générale de la production française - CGPF) và Tổng Liên đoàn Lao động - CGT) công đoàn lao động lớn nhất, cùng với chính phủ, đã chấp nhận ý tưởng thực hiện chế độ nghỉ phép có lương. Các điều kiện lao động khi đó như thế nào ? Trong những năm 1920 và 1930, chúng ta đã chứng kiến ​​một mô hình sản xuất kiểu « fordisation », nghĩa là công việc ngày càng được tổ chức theo kiểu sản xuất theo dây chuyền và với sự kiểm soát thời gian chặt chẽ. Khi đó người ta đã nhắc đến những hệ quả, những cái được, cái mất, những thách thức trong việc quản lý thời gian chặt chẽ như vậy. Một số người trong một số lĩnh vực, ngành nghề khi đó đã được hưởng kỳ nghỉ được trả lương, nhưng phần lớn người lao động và công nhân thì không. Cũng đã có những đề xuất, dự thảo luật trong những năm 1920 và 1930, nhưng chúng chưa bao giờ được thực hiện. Vì vậy, đây thực sự là một điều mới mẻ, một điều quan trọng. Vào thời điểm đó, cũng có thể nói rằng Pháp đang tụt hậu so với các nước khác bởi vì từ giữa thế kỷ 19 trở đi thì mới có một số công chức Nhà nước có quyền được nghỉ phép mà vẫn được hưởng lương. Và sau đó là một số người lao động nhất định, ví dụ như công nhân đường sắt. Xin nhắc lại là vào thời bấy giờ, các công ty đường sắt là của tư nhân, và mãi cho đến năm 1937 thì SNCF (Công ty Đường sắt Quốc gia Pháp) mới được thành lập. Nhưng mà trước đó, các công ty đường sắt tư nhân đã có chế độ nghỉ phép có lương cho công nhân, các công ty điện lực cũng tương tự. RFI : Pháp có đi tiên phong về áp dụng rộng rãi chế độ nghỉ phép có lương cho người lao động không ? Jean Vigreux : Không, Pháp không đi tiên phong. Tại nước Đức chẳng hạn, đã có nhiều người lao động được nghỉ phép mà vẫn hưởng lương hơn là ở Pháp. Vào những năm 1920 đến đầu những năm 1930, đã có hơn 12 triệu người Đức có thể được hưởng chế độ nghỉ phép có lương. Như vậy Pháp khi đó còn khá tụt hậu, tôi biết là có một cuộc khảo sát của Cơ quan Lao động Quốc tế cho thấy rằng ở châu Âu vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930, đã có khoảng 40% người lao động, cả nam và nữ, xin ...
    続きを読む 一部表示
    10 分
  • Bỉ : Kỳ nghỉ phép có lương, 90 năm thành tựu
    2026/08/12
    Tháng Bảy, tháng Tám, tắm biển, đi lên núi, ra nước ngoài, hay ở nhà… là những câu hỏi nơi cửa miệng ở công sở trước mỗi mùa hè. Ngày nay, việc đi nghỉ dài ngày đã trở nên bình thường đối với bất cứ người làm công ăn lương nào tại nhiều nước trên thế giới. Nhưng để trở thành bình thường, điều đó đã phải trải qua một tiến trình dài. Phúc lợi xã hội này chỉ mới được áp dụng ở Bỉ từ năm 1936 sau nhiều cuộc đấu tranh xã hội gay gắt. Khái niệm về kỳ nghỉ đã phát triển, phản ánh các xã hội khác nhau và mối quan hệ của chúng với thời gian và công việc. Từ nguyên của “vacances” trong tiếng Pháp bắt nguồn từ thời cổ đại, từ trong tiếng La tinh “vacare” có nghĩa là “trống rỗng, không người ở, nhàn rỗi”. Ngay cả ở thời kỳ này, người Hy Lạp và La Mã đã phân biệt giữa hai khoảng thời gian : lao động và nghỉ ngơi. Vì vậy, họ dùng từ negotium chỉ thời gian dành cho công việc chân tay và buôn bán và từ otium có thể tạm dịch là “thời gian rảnh rỗi”. Đây là thời gian không làm những việc chân tay và dành cho việc nghỉ ngơi, suy tư, đọc sách và các hoạt động giải trí. Nghỉ ngơi : Đặc quyền của giới quý tộc Tuy nhiên, những khoảng thời gian rảnh rỗi này là đặc quyền của một bộ phận nhỏ dân số, giới thượng lưu quý tộc. Từ thời cổ đại đến thời Trung cổ, giới thượng lưu, quý tộc và tầng lớp thượng lưu không làm việc chân tay, vì lao động bị coi thường, chỉ giành cho tầng lớp hạ lưu. Thế giới nhàn rỗi được dành riêng cho họ. Vào thời đó, mặc dù nghỉ ngơi tồn tại như một khái niệm, nhưng nó chưa thiết lập như một quyền và không phải ai cũng có thể đòi hỏi. Ví dụ như nô lệ và người lao động, rồi sau này là tầng lớp công nhân, không được hưởng những khoảng thời gian rảnh rỗi này. Sự phân biệt đó có cấu trúc bền vững trong các xã hội phương Tây : thời gian rảnh rỗi từ lâu vẫn là đặc quyền dành cho giới thượng lưu. Một bước ngoặc xảy ra vào thời Trung Cổ, đặc biệt là ở các thành thị ở Bắc Âu và những vùng mà ngày nay là Hà Lan (Pays-Bas). Các tháp chuông không đơn thuần là biểu tượng kiến trúc. Được quản lý bởi các thị trấn (communes), chúng thể hiện quyền tự chủ của các thị trấn trước các thế lực phong kiến và tôn giáo. Nhờ có tiếng chuông, giờ giấc làm việc được thông báo công khai. Thời gian bắt đầu và kết thúc ngày làm việc, cũng như giờ nghỉ giải lao, đều giống nhau cho mọi người. Sự phát triển này có vẻ không đáng kể. Tuy nhiên, nó lại mang đến tính quyết định : công việc đang dần được trả công dựa vào thời gian làm việc, chứ không phải dựa trên nhiệm vụ hoàn thành. Lần đầu tiên, thời gian làm việc trở nên có thể đo lường, so sánh và do đó có thể thương lượng. Sự chuyển đổi này tạo nên một trong những nền tảng của nền kinh tế hiện đại. Nghỉ hè để làm nông và nghỉ ngơi liên quan đến tôn giáo Năm 1231, Giáo hoàng Gregorio IX đã ban hành một kỳ nghỉ giữa mùa hè, từ tháng Tám đến tháng Chín, trùng với mùa thu hoạch và hái nho. Khi đó, nhiều học sinh và người học việc sẽ rời bỏ sách vở để về làm việc với cha mẹ trên các cánh đồng. Giáo hoàng đã ban hành kỳ nghỉ này để đáp trả sự tức giận của các giáo sư trong các lớp học vắng vẻ, đặc biệt là tại Đại học Paris danh tiếng. Đây thực sự không phải là kỳ nghỉ hè theo nghĩa như ngày nay và không phải thời gian cho sinh viên nghỉ ngơi, mà để họ có thời gian dành cho công việc đồng áng của gia đình. Cho đến thời Trung Cổ, thời gian nghỉ ngơi chủ yếu được sắp xếp theo lịch tôn giáo. Những ki-tô hữu đi lễ Chủ Nhật. Người Do Thái giữ ngày Sa-bát, trong khi cộng đồng đạo Hồi coi thứ Sáu là ngày nghỉ hàng tuần của họ. Vào thời đó, các lễ hội và các ngày lễ thiêng liêng diễn ra trong năm, mang lại những ngày nghỉ không làm việc trên đồng ruộng hay xưởng thủ công. Những ngày nghỉ này được giành cho việc thực hành tôn giáo, chứ không phải cho sự nghỉ ngơi nhàn hạ, hay không hoạt ...
    続きを読む 一部表示
    10 分
  • Con nuôi người Hàn ở Mỹ : Những đứa trẻ sống kiếp không quê hương
    2026/08/05
    Từ sau Chiến tranh Triều Tiên, hàng trăm nghìn trẻ em Hàn Quốc đã được đưa ra nước ngoài làm con nuôi và Mỹ là điểm đến lớn nhất. Với nhiều gia đình phương Tây, đây từng được xem là hành động nhân đạo: cứu giúp những đứa trẻ mồ côi, nghèo đói, không có tương lai trong một đất nước vừa ra khỏi chiến tranh. Nhưng sau hơn 70 năm, những câu chuyện được kể lại từ chính người con nuôi Hàn Quốc cho thấy một mặt khác của lịch sử: hồ sơ bị làm sai lệch, trẻ em bị tách khỏi gia đình ruột, quốc tịch không được bảo đảm, khủng hoảng bản sắc kéo dài và nỗi đau tìm lại cội nguồn không dễ chữa lành. Không chỉ là câu chuyện của những đứa trẻ được đưa tới một gia đình mới, đó còn là câu chuyện của chiến tranh, nghèo đói, kỳ thị xã hội, chủ nghĩa dân tộc huyết thống, nhu cầu gia đình của phương Tây, tôn giáo, thị trường nhận con nuôi và trách nhiệm chưa hoàn tất của cả quốc gia gửi con lẫn quốc gia nhận con. Lịch sử nhận con nuôi Hàn - Mỹ Theo Namu-Wiki, chuyên trang bách khoa toàn thư phiên bản Hàn Quốc, lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ bắt đầu trong bối cảnh Hàn Quốc kiệt quệ sau Chiến tranh Triều Tiên. Đất nước bị tàn phá, nhiều gia đình ly tán, trẻ em mồ côi và trẻ bị bỏ rơi xuất hiện khắp nơi, trong khi hệ thống phúc lợi trẻ em gần như không đủ sức bảo vệ những nhóm yếu thế nhất. Đặc biệt, trẻ lai giữa binh sĩ Mỹ và phụ nữ Hàn Quốc trở thành một trong những nhóm đầu tiên bị đẩy ra khỏi xã hội Hàn Quốc thời hậu chiến. Những đứa trẻ này thường bị kỳ thị kép: vừa là con của phụ nữ nghèo hoặc bị xã hội phán xét, vừa bị xem là đe dọa đối với quan niệm “dân tộc thuần chủng”. Trong xã hội Hàn Quốc lúc bấy giờ, huyết thống và gia đình phụ hệ giữ vai trò rất lớn, trẻ lai gần như không có vị trí rõ ràng. Đưa các em sang Mỹ vì thế được trình bày như một giải pháp nhân đạo, nhưng cũng đồng thời là cách Hàn Quốc loại bỏ một nhóm trẻ mà xã hội không muốn nhìn nhận. Ở phía Mỹ, phong trào nhận nuôi trẻ em Hàn Quốc được thúc đẩy bởi truyền thông chiến tranh, các tổ chức Cơ Đốc giáo và bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Hình ảnh trẻ em Hàn Quốc nghèo đói, mồ côi và cần được cứu giúp xuất hiện trong các chiến dịch bảo trợ, tờ rơi, ảnh chụp và phim tài liệu, tạo nên một làn sóng cảm thương trong công chúng Mỹ. Các tổ chức như World Vision và Everett Swanson Evangelistic Association, tiền thân của Compassion International, góp phần biến trẻ em Hàn Quốc thành đối tượng của các chương trình bảo trợ từ xa, rồi từ đó mở đường cho nhận con nuôi thực sự. Theo báo Christian Today, năm 1955, vợ chồng Harry và Bertha Holt, một cặp vợ chồng Tin Lành ở bang Oregon, nhận nuôi 8 trẻ em Hàn Quốc. Đây trở thành dấu mốc quan trọng trong lịch sử nhận con nuôi Hàn – Mỹ. Từ sự kiện này, chương trình Holt Adoption Program ra đời và về sau phát triển thành một trong những tổ chức nhận con nuôi quốc tế nổi bật nhất. Theo tài liệu về lịch sử Cơ Đốc giáo trong nhận con nuôi Hàn – Mỹ, trong giai đoạn 1953–2018, khoảng 170.000 trẻ em Hàn Quốc được nhận nuôi tại hơn 29 quốc gia, trong đó Mỹ nhận hơn hai phần ba, tương đương 114.117 trẻ. Ban đầu, câu chuyện được kể bằng ngôn ngữ của lòng nhân đạo: trẻ em nghèo được cứu giúp, trẻ mồ côi có gia đình, những đứa trẻ không tương lai được đưa đến một đất nước giàu có hơn. Nhưng theo thời gian, khi số lượng trẻ được đưa ra nước ngoài ngày càng lớn, hệ thống ấy bắt đầu bộc lộ một bản chất phức tạp hơn nhiều. Con nuôi người Hàn dần bị coi như món hàng công nghiệp Khi việc nhận con nuôi được đưa vào một hệ thống có nhu cầu, có tổ chức, có phí, có hồ sơ và có quy trình vận chuyển, trẻ em dần bị nhìn theo một cách khác. Các em không còn là những đứa trẻ cần được bảo vệ, mà trở thành đối tượng trong một chuỗi cung ứng xuyên quốc gia: được chọn, kiểm tra sức khỏe, lập hồ sơ, chuyển giao và đưa sang nước ngoài. Nghiên cứu của giáo sư Kim ...
    続きを読む 一部表示
    13 分
  • Bỉ chuẩn bị và diễn tập đối phó với những cuộc khủng hoảng
    2026/07/29
    Khác với triết lý “chiến tranh nhân dân”, nơi mỗi người dân là một người lính và mọi người đều được tuyên truyền sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, nước Bỉ nói riêng và Âu châu nói chung hình như đã quên đi mối đe dọa của chiến tranh, nhất là sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt với sự sụp đổ của bức tường Berlin và do vậy quên cả việc thao dượt những kỹ năng căn bản cho người dân của mình để đối phó với những cuộc khủng hoảng . Khi cuộc chiến giữa Ukraina và Nga ngày càng có nguy cơ mở rộng và kéo dài, cộng thêm việc Hoa Kỳ rút lại hỗ trợ quốc phòng cho châu Âu từ đầu năm nay, các nước Tây Âu mới nhận ra những thiếu sót cho sự chuẩn bị và những bất cập khi phải nhanh chóng lấp vào lỗ hổng của Mỹ. Vậy Bỉ đã có những chuẩn bị như thế nào để đối phó với những tình huống khẩn cấp ? Từ cấp vĩ mô Vương quốc Bỉ là một nước nhỏ nằm giữa Đức và Pháp, giáp với Hà Lan. Là thành viên của NATO, Bỉ đã phải tăng ngân sách quốc phòng theo yêu cầu, cũng như có chính sách gia tăng và cải tổ lực lượng quân đội. Bỉ không có chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc, nên quân đội phải có những đợt quảng bá tuyển quân phục vụ tự nguyện nhằm đáp ứng cho những đòi hỏi ngày càng cao của quân đội. Về mặt vật chất, ngân sách quân sự của Bỉ trong năm nay được ưu tiên giành để mua các chiến đấu cơ F35 từ Hoa Kỳ. Việc mua các máy bay này không chỉ tiêu tốn nhiều tiền mà còn đòi hỏi phải có cả đội ngũ từ phi công cho đến các nhân viên bảo trì và chuyên viên về vũ khí. Cho đến phần của mỗi công dân Do nguy cơ chiến tranh có thể lan rộng bất cứ lúc nào và bất cứ nơi nào trên nước Bỉ, người dân được khuyến khích tự đối phó trong tình trạng khủng hoảng mà không trông chờ vào các cơ quan khẩn cấp của chính phủ. Dĩ nhiên là không có những khóa tập dượt trong các khu phố hay những khẩu hiệu, loa phóng thanh tuyên truyền ra rả để người dân nghi nhớ, mà thay vào đó là những clip video ngắn, vui nhộn được tung ra trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Chương trình này được chính cựu ngoại trưởng Bỉ Hadja Lahbib điều hành ở cấp độ châu Âu. Không biết chương trình này có giáo dục người dân ý thức được việc mình phải làm và chuẩn bị trong tình huống cụ thể ? “Bộ dụng cụ căn bản” hay “Bộ dụng cụ sinh tồn” ? Từ mùa xuân năm nay, hệ thống siêu thị Colruyt cho ra mắt bộ dụng cụ căn bản giá 29,99 euro, với lời hứa đơn giản là bạn có thể tự túc trong vòng 24 giờ. Bộ dụng cụ căn bản này gồm một món ăn sáng, món hầm kiểu kebab, mỳ Ý hương vị BBQ, ba thanh năng lượng, một gói bột pha nước uống, ba gói cà phê hòa tan, sáu miếng kẹo cao su, khăn giấy, một cái thìa và một dụng cụ nấu ăn không cần lửa. Theo siêu thị, đây là phản hồi trước yêu cầu từ chính quyền về khả năng “tự cung tự cấp trong vài ngày” trong trường hợp xảy ra khủng hoảng lớn, như mất điện, mất khí đốt, thậm chí là lũ lụt. Điều này đã xảy ra hồi mùa đông năm nay, khi cả thành phố Mons mất điện gần 2 tuần và trận lụt lịch sử gây ra nhiều thiệt hại cho vùng Wallonie mùa hè năm 2021. Tuy chưa được phổ biến rộng rãi, « bộ dụng cụ căn bản » này đã có hai luồng ý kiến. Theo thăm dò, nhiều người, rút kinh nghiệm sau dịch Covid-19, đã thường xuyên tích trữ nước uống, mỳ Ý và giấy vệ sinh trong nhà. Những người ủng hộ thì cho rằng túi đồ khẩn cấp này tiện lợi để xoay sở trong 24 giờ trong khi chờ tiếp cứu. Những người chống thì cho rằng túi đồ này chỉ toàn đồ ăn trong khi nhu cầu trong vòng 24 giờ thì đa dạng hơn ! Từ năm 2025, Trung tâm Khủng hoảng Quốc gia của Bỉ đã đề xuất một danh sách những thứ cần thiết theo tiêu chuẩn của Liên Hiệp Châu Âu, để mỗi người có thể tự chuẩn bị cho riêng mình và có thể tự xử lý trong vòng 72 giờ khi có khủng hoảng xảy ra. Bộ sơ cứu bao gồm băng gạc, kéo, thuốc sát trùng, thuốc giảm đau, v.v. ; Một chiếc radio chạy bằng pin (kèm pin dự phòng) để...
    続きを読む 一部表示
    9 分
  • Smartphone: Hàn Quốc thay đổi cách bảo vệ trẻ em trong thời đại công nghệ số
    2026/07/22
    Trong bối cảnh nhiều quốc gia đang siết chặt việc trẻ vị thành niên sử dụng mạng xã hội và thiết bị số, tại Hàn Quốc, vấn đề quản lý điện thoại thông minh của trẻ em cũng đang trở thành một chủ đề xã hội được quan tâm mạnh mẽ. Một khảo sát gần đây cho thấy phần lớn phụ huynh Hàn Quốc không còn xem smartphone đơn thuần là công cụ tiện lợi, mà là thiết bị cần được kiểm soát chặt chẽ trong quá trình nuôi dạy trẻ. Theo kết quả khảo sát do nghị sĩ Kim Young-ho, chủ tịch Ủy ban Giáo dục Quốc Hội Hàn Quốc, thực hiện với hơn 52.000 phụ huynh có con đang học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông tại Seoul, Incheon và tỉnh Gyeongnam, có tới 98,1% người tham gia cho rằng “cần có mức hạn chế nhất định đối với việc sử dụng điện thoại thông minh của trẻ vị thành niên”. Những lo ngại của phụ huynh tập trung vào nhiều khía cạnh. Có 97,5% cho rằng smartphone làm tăng nguy cơ trẻ tiếp xúc với nội dung độc hại hoặc thông tin không phù hợp; 96% nhận định thiết bị này có thể cản trở sự tập trung trong học tập; 93,9% cho rằng trẻ khó tự kiểm soát thời gian sử dụng; và 90,4% cho biết việc dùng điện thoại cũng có thể trở thành nguyên nhân gây mâu thuẫn trong gia đình. Nghịch lý smartphone của các gia đình Điều đáng chú ý là dù nhận thức rõ các nguy cơ, nhiều phụ huynh vẫn cho con tiếp xúc với điện thoại từ rất sớm. Theo khảo sát năm 2023 của Quỹ Báo chí Hàn Quốc, 29,9% trẻ em Hàn Quốc đã sử dụng smartphone lần đầu trước 24 tháng tuổi, còn tỷ lệ tiếp xúc trước 5 tuổi lên tới 71,5%. Về thời điểm sở hữu điện thoại cá nhân, 15,9% trẻ có điện thoại trước khi vào tiểu học và 44,3% có điện thoại khi học lớp 1 hoặc lớp 2. Thực tế này phản ánh một nghịch lý trong các gia đình hiện đại: cha mẹ lo ngại tác hại của smartphone nhưng vẫn khó từ chối thiết bị này vì nhu cầu liên lạc, an toàn, học tập và sinh hoạt hằng ngày của con. Nghị sĩ Kim Young-ho cho rằng kết quả khảo sát cho thấy rõ tình thế khó xử của phụ huynh. Họ hiểu điện thoại thông minh có thể gây rủi ro, nhưng vẫn buộc phải trao cho con vì lý do an toàn và đời sống học đường. Từ thực tế đó, ông Kim đề xuất phổ biến một thiết bị thay thế gọi là “Edu Ansim Phone” – điện thoại an toàn dành cho học sinh. Thiết bị này sẽ duy trì các chức năng cần thiết như nghe gọi, định vị, ứng dụng an toàn, đồng thời hạn chế các tính năng có nguy cơ gây nghiện hoặc tiềm ẩn rủi ro cao như video ngắn, mạng xã hội, trò chơi trực tuyến và trò chuyện ẩn danh. Theo ông Kim, việc phát triển thiết bị thay thế không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu liên lạc giữa cha mẹ và con cái, mà còn tạo ra một lựa chọn trung gian giữa “cấm hoàn toàn” và “cho trẻ dùng smartphone đầy đủ chức năng”. Đây có thể là hướng đi giúp phụ huynh bảo vệ con khỏi nội dung độc hại, giảm nguy cơ lệ thuộc vào thiết bị số, nhưng vẫn bảo đảm yếu tố an toàn trong sinh hoạt hằng ngày. Trẻ nhỏ cần được bảo vệ đặc biệt trước màn hình Các chuyên gia cho rằng việc quản lý smartphone không thể chỉ dừng ở việc thay đổi thiết bị, mà cần bắt đầu từ nhận thức đúng về quá trình phát triển của trẻ. Theo Ủy ban Phát triển thuộc Hội Nhi khoa và Thanh thiếu niên Hàn Quốc, việc cho trẻ tiếp xúc với điện thoại thông minh, máy tính bảng hoặc TV từ quá sớm là xu hướng đáng lo ngại. Giai đoạn đầu đời là thời kỳ trẻ cần tương tác trực tiếp với con người, đồ vật thật và môi trường xung quanh, thay vì tiếp nhận các kích thích một chiều từ màn hình. Trẻ nhỏ dễ bị smartphone thu hút bởi hình ảnh chuyển động nhanh, màu sắc rực rỡ, âm thanh liên tục và các nhân vật bắt mắt. Những kích thích mạnh này khiến trẻ nhanh chóng bị cuốn vào màn hình, đồng thời dần cảm thấy các hoạt động thông thường như đọc sách, chơi đồ chơi, vận động, quan sát thiên nhiên hoặc trò chuyện với cha mẹ trở nên kém hấp dẫn hơn. Khi não bộ quen với nhịp kích thích nhanh và mạnh, trẻ cũng có thể khó thích nghi...
    続きを読む 一部表示
    11 分
  • Lịch sử 80 năm di dân Ý ở Bỉ: Từ thế hệ "charbonnage" đến làn sóng nhập cư lậu
    2026/07/15
    “Chúng tôi không đến đây để hưởng nắng vàng và trời xanh”. Cách nay 80 năm, vào ngày 23/06/1946, Bỉ và Ý đã ký một thỏa thuận lịch sử : Đổi người lấy than đá. Từ đợt di dân này, những làn sóng nối tiếp đã hình thành nên một phần di sản Ý ngay giữa lòng Vương quốc Bỉ. Từ thế hệ “charbonnage” Từ charbonnage trong tiếng Pháp có nghĩa là những đường hầm sâu hoắm trong lòng đất để khai thác than đá. Nhưng ở Bỉ, từ này dùng để chỉ thế hệ những người Ý di dân đến làm việc trong các vùng có mỏ than ở Bỉ. Từ này mang tính chất miệt thị, coi thường những người Ý đến làm việc trong các mỏ than. Ngày nay, khi nói chuyện với những người Ý, nhắc đến từ này giống như gợi lại nơi họ ký ức sống động về một thời lao nhọc của những người phu mỏ. Ngày 23/06/1946, trong bối cảnh một châu Âu bị tàn phá bởi chiến tranh, Bỉ và Ý đã ký kết một hiệp ước độc đáo. Bỉ cần nhân lực để khởi động lại những mỏ than sau 5 năm bị Đức chiếm đóng. Ý, một quốc gia bại trận, đang tìm cách bảo đảm nguồn cung nguyên liệu giá rẻ. Để cân bằng phương trình này, 50.000 người đàn ông đang trong độ tuổi lao động đã rời bỏ những bờ biển đầy nắng ở Apulia, Abruzzo, Basilicata, Sicilia và Friuli của nước Ý để bước xuống những đường hầm tăm tối ở Liège, Charleroi và Borinage nơi nước Bỉ xa xôi. Đổi lại, Ý được quyền nhận 200kg than mỗi thợ mỏ mỗi ngày. Họ đến đây một mình, đôi khi cùng với gia đình, có cả trẻ nhỏ. Họ được bố trí ở tạm trong các doanh trại, nơi mà chỉ vài tháng trước còn là nơi giam giữ tù binh Đức. Điều kiện sống khắc nghiệt, cú sốc văn hóa hoàn toàn. Tuy nhiên, khi kết thúc hợp đồng 5 năm, phần lớn trong số họ đã không trở về mà đã ở lại và xây dựng cuộc sống, gia đình. Một bản sắc mới. Một bầu trời Bỉ mà bất chấp tất cả sẽ luôn “xanh” hơn sắc thiên thanh ở Ý. Tuy nhiên, ngày 08/08/1956, thảm họa ập xuống mỏ than Bois du Cazier ở Marcinelle làm 262 thợ mỏ thiệt mạng, trong đó có 136 người Ý. Thảm họa dẫn đến việc chấm dứt thỏa thuận trao đổi giữa hai nước, nhưng lại mở ra một làn sóng người Ý “nhập cư lậu”. Thế hệ chạy trốn ? Cách nay 5 năm, đại sứ Ý tại Bỉ, Francesco Genuardi, đã giải thích tại lễ tưởng niệm các thợ mỏ người Ý tại Bỉ trong thảm họa này : "Chúng ta không ăn mừng Hiệp định Than đá - Con người; chúng ta đang tưởng niệm, với lòng kính trọng, một bước đi khó khăn và đau đớn, nhưng là một bước khởi đầu cho sự hội nhập của người Ý tại Bỉ." Việc đến Bỉ năm 1946 là “một sự thất vọng lớn đối với người Ý.” Tuy nhiên, ngày nay, do tình hình kinh tế khó khăn, tỷ lệ thất nghiệp cao và môi trường không thuận lợi, nhiều người Ý đang rời bỏ quê hương để tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn. Đôi khi, họ chọn Bỉ làm điểm đến. Điều này đặc biệt đúng với nghệ sĩ saxophone Angelo Gregorio, chơi trong một nhóm nhạc jazz. Anh đã rời Ý mười năm trước : “Bruxelles thực sự đã chiều chuộng tôi và cho tôi rất nhiều cơ hội. Đối với tôi, Bỉ giống như nước Mỹ đối với những người đã di cư đến đó từ lâu.” Laura, một nữ phục vụ bàn đã làm việc được hai năm, là một ví dụ điển hình. Người phụ nữ gốc Napoli này đã rời bỏ một thành phố đầy nắng, nơi khai sinh ra bánh pizza và phô mai mozzarella, nhưng “không có việc làm" : "Bạn có thể tìm việc ở đó, nhưng chỉ được trả 100 euro một tuần cho những ngày làm việc 10 hoặc 12 tiếng. Ví dụ, anh trai tôi làm việc ở sân bay, đã đóng cửa tám tháng nay. Anh ấy không được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Anh ấy chỉ ở nhà, mặc dù đã làm việc ở đó 13 năm. Rõ ràng là điều này có liên quan đến khủng hoảng, nhưng làm sao bạn có thể kiếm đủ sống khi phải nuôi cả nhà ?" Nhiều người nhìn nhận vấn đề theo cách này. Giáo sư xã hội học tại Đại học Liège, Marco Martiniello, đã xác nhận: "Có một cảm giác rằng Ý là một quốc gia của quá khứ, nơi mọi thứ đều bị đình trệ và không có tương...
    続きを読む 一部表示
    10 分