『Tạp chí xã hội』のカバーアート

Tạp chí xã hội

Tạp chí xã hội

著者: RFI Tiếng Việt
無料で聴く

概要

Những vấn đề xã hội Việt Nam và trên thế giới qua lăng kính RFI

France Médias Monde
社会科学
エピソード
  • Chính sách gia đình bền vững, phổ quát: Yếu tố giúp Pháp hạn chế phần nào tình trạng tỉ lệ sinh giảm
    2026/03/13
    Số ca sinh trong một năm của Pháp giảm xuống mức thấp nhất tính từ 80 năm trở lại đây (từ năm 1946, sau Đệ Nhị Thế Chiến). Theo số liệu thường niên Viện Thống kê Quốc gia Pháp (INSEE) công bố vào giữa tháng 01/2026, Pháp chỉ ghi nhận ​​645.000 ca sinh trong cả năm 2025, giảm 2,1 % so với năm 2024, và giảm tới 24% so với năm 2010. Thực ra, đây không phải sự suy giảm đột ngột tại Pháp. Tính từ năm 2011 đến nay, trừ năm 2021 do tác động của biện pháp phong tỏa dài ngày chống đại dịch Covid-19, số ca sinh hàng năm của Pháp đều giảm. Điều an ủi là Pháp vẫn là nước có tỉ lệ sinh thuộc nhóm cao nhất ở châu Âu. Trả lời phỏng vấn đài RFI Tiếng Việt ngày 05/03/2026, nhà nhân khẩu học Gilles Pison, giáo sư danh dự tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia của Pháp, cố vấn của ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu Dân số Quốc gia (INED), cũng là tác giả của cuốn Atlas Dân số Thế giới (NXB Autrement 2023), trước hết nhận định tỉ lệ sinh tại Pháp có xu hướng giảm không nằm ngoài xu hướng chung trên thế giới : « Đằng sau tỉ lệ sinh giảm, tình trạng chung của thế giới, là mong muốn có ít con hơn, nhưng là để có thể đầu tư nhiều hơn cho mỗi đứa con để những đứa trẻ này có thể thành công trong cuộc sống. Điều này có nghĩa là phải đầu tư để mỗi đứa trẻ được sinh ra sẽ phải được hưởng điều kiện giáo dục tốt, sẽ phải có nghề nghiệp tốt và nói tóm lại là sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn so với cha mẹ các em. Ở khắp nơi trên thế giới này, các bậc phụ huynh cũng đều hiểu rõ là nếu có nhiều con, họ sẽ không thể bảo đảm được là mỗi đứa con của họ đều sẽ thành công trong cuộc sống. Dẫu sao thì họ cũng phải đầu tư cho từng đứa con học hành rất nhiều năm và theo những chương trình học có chất lượng cao, có nghĩa là phụ huynh phải trả rất nhiều chi phí. Nói tóm lại, sinh ít con hơn là xu hướng toàn cầu và đã bắt đầu có từ rất lâu rồi, và điều này gắn với mong muốn có những đứa con thành công trong cuộc sống ». Tỉ lệ sinh con ở 2 nhóm phụ nữ vốn tỉ lệ sinh cao nhất, 30-34 tuổi và 25-29 tuổi, đều giảm tại Pháp. Và tính tổng thể, tỉ lệ sinh trung bình năm 2025 đã giảm xuống còn 1,56 con/phụ nữ. Nhà nhân khẩu học Gilles Pison cho biết : « Tỉ lệ sinh tiếp tục giảm và đã giảm xuống mức thấp nhất, dưới ngưỡng 2 con/phụ nữ. Đây là một điều khiến các nhà nhân khẩu học ngạc nhiên, bởi vì họ từng nghĩ rằng khi tỉ lệ sinh con của phụ nữ xuống đến mức 2 con/người thì rồi sẽ ngừng giảm, nhưng không, nó vẫn cứ tiếp tục giảm ». Tỉ lệ sinh trung bình ở Pháp như vậy đã giảm nhanh và mạnh hơn so với các dự báo, bất chấp chính sách thúc đẩy dân số của các chính phủ ở cả phe tả và hữu. Tỉ lệ sinh trung bình trên thực tế như vậy cũng thấp hơn so với kết quả thăm dò ý kiến : ví dụ theo một cuộc điều tra Viện INED thực hiện năm 2024, đa phần số người được hỏi cho biết họ muốn sinh con và trung bình người Pháp muốn có 2 con. Không chỉ vậy, phụ nữ cũng sinh con muộn hơn : độ tuổi trung bình của phụ nữ khi sinh con là 31,2 tuổi, so với độ tuổi 30,4 cách nay 10 năm. Về điều này, nhà nhân khẩu học Gilles Pison phân tích : « Mong muốn là một chuyện, còn thực hiện mong muốn đó lại là chuyện khác. Chúng ta thấy là không phải mong muốn nào cũng trở thành hiện thực. Thế nên, có một khoảng cách giữa số con người ta muốn có, và số con mà họ đã sinh ra. Điều này không thực sự gây ngạc nhiên và đã có từ trước. Các kết quả nghiên cứu mà chúng tôi có cho thấy người dân Pháp, cũng như người dân các nước khác, nhất là phụ nữ, vừa muốn có con, vừa muốn có công việc, theo đuổi sự nghiệp. Khi khó dung hòa hai yếu tố công việc và gia đình, thì đa phần những người phụ nữ muốn có con đều đẩy lui thời điểm sinh con, một số người thậm chí vì cứ phải trì hoãn mãi mà cuối cùng không sinh được con dù họ mong muốn ». Ưu điểm trong chính sách gia đình của Pháp Tạo điều kiện để các bậc phụ huynh ...
    続きを読む 一部表示
    10 分
  • Vì sao các đại học Anh ngưng tuyển sinh từ Bangladesh và Pakistan?
    2026/03/11
    Một số đại học Anh ngừng nhận sinh viên từ Bangladesh và Pakistan để hạn chế tình trạng hàng nghìn sinh viên sau khi học xong đã ở lại quá hạn visa và xin tỵ nạn. Sức ép của bộ Nội Vụ buộc các trường đại học làm chặt việc tuyển sinh từ nước ngoài, lại xảy ra vào thời điểm rất nhiều trường đã thiếu hụt số sinh viên quốc tế nói chung từ 3-4 năm qua, gặp khủng hoảng tài chính, tới mức phải cắt giảm các khóa học, đóng cửa bộ môn, và thậm chí giải tán cả các cơ sở học đường. RFI Tiếng Việt : Thân chào anh Nguyễn Giang. Hiện là nghiên cứu sinh tại đại học City University of London, anh giải thích vấn đề “tiến thoái lưỡng nan này” của ngành giáo dục đại học Anh quốc như thế nào ? Nguyễn Giang : Tin tức thời gian qua cho hay hàng loạt đại học Anh, như University of Wolverhampton, đã tuyên bố ngừng nhận tuyển sinh từ Bangladesh và Pakistan, còn các đại học Sunderland và Coventry thì “tạm ngưng” nhận đơn xin du học từ hai nước đó. Các trường London Metropolitan, Chester và Hertfordshire đều có các biện pháp tương tự, ít ra là trong năm 2026. Trên thực tế thì trong niên khóa tới (2026-2027) mà mùa tuyển sinh sẽ bắt đầu từ đầu hè 2026, con số các đại học Anh phải rà soát đơn đăng ký ghi danh từ tất cả các nước trên thế giới, sẽ tăng lên. Tôi được biết là ít nhất trên 20 trường đang bị bộ Nội Vụ cảnh báo rằng nếu những năm qua, họ có số sinh viên quốc tế học xong ở lại quá hạn visa, hoặc xin tỵ nạn, vượt một ngưỡng nhất định thì chính phủ sẽ đơn giản là rút giấy phép tuyển sinh quốc tế của họ. Mà thiếu sinh viên nước ngoài thì hàng loạt trường đại học ở Anh sẽ gặp khó khăn lớn về nguồn thu. Trong năm 2025, hàng loạt trường ở Scotland, ở miền Trung nước Anh đã phải đóng nhiều khóa học. Nhưng tin gây choáng nhất là có thêm hai đại học Kent và Essex ở vùng phụ cận của Luân Đôn trong năm 2025 đã phải đóng một số cơ sở (campus) và sa thải hàng trăm giảng viên vì thiếu sinh viên nước ngoài. Các trường khác không cẩn thận có nguy cơ rơi vào tình trạng tương tự. Trước khi nói về vấn đề của các đại học Anh, xin anh cho biết câu chuyện sinh viên quốc tế trốn ở lại đi làm chui hoặc học xong mới xin tỵ nạn là như thế nào ? Đây là câu chuyện khá nhức nhối ở Anh và hóa ra nó đã xảy ra mấy năm nay mà giờ người ta mới nói tới nhiều. Báo chí rất nhiều năm chỉ tập trung vào chuyện người di cư bằng thuyền nhỏ từ Pháp sang Anh qua eo biển mà không biết là hàng chục phần trăm số người xin tị nạn ở Anh là từ những người vào Anh hợp pháp, có thị thực hẳn hoi, gồm không ít sinh viên. Chỉ khi giấy tờ, việc làm khó khăn họ mới quay ra xin tỵ nạn, tạo ra gánh nặng không nhỏ cho nhà nước, vì người được công nhận tỵ nạn là được bảo hiểm y tế, được nhà ở miễn phí ngay lập tức. Xin nêu một vài con số, tính từ tháng 7/2024 đến tháng 6/2025, có 111.084 người nộp đơn xin tỵ nạn lên bộ Nội Vụ Anh, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước đó. Trong tổng số này thì có gần 44 nghìn người là vào bất hợp pháp, gồm 39% là « thuyền nhân » và 11% nữa là vào bằng xe thùng, containers... Chừng 13% nữa đã vào Anh từ Liên Hiệp Châu Âu, từ các đường khác hoặc là thân nhân của ai đó đã tới Anh nhưng hết hạn visa không xin thêm được. Còn lại thì tới 41 nghìn (37%) là đã tới Anh hợp pháp rồi mới xin tỵ nạn. Trong số này có gần 15 nghìn là sinh viên hoặc cựu sinh viên quốc tế. Ngoài sinh viên Bangladesh và Pakistan thì có sinh viên các nước nào nữa hay xin tỵ nạn ở Anh ? Tôi nhớ hồi tháng 5/2025, đã có tin công dân của ba nước Pakistan, Sri Lanka và Nigeria bị cho là có mặt đông nhất trong nhóm “ở lại quá hạn visa”, gồm các sinh viên - tin của báo The Guardian 06/05/2025 trích nguồn bộ Nội Vụ. Nhưng những thông báo chính thức đầu tháng 12/2025 lại cho thấy có thêm Bangladesh trong danh sách. Các nước này được cho là “quốc gia rủi ro cao” (high-risk countries) khi tuyển sinh viên và các đại học Anh giờ phải rà soát kỹ về nguồn tiền của sinh viên du học ...
    続きを読む 一部表示
    11 分
  • Châu Âu : Bảo vệ rừng hoang nhằm duy trì ngành sản xuất mật ong
    2026/03/06
    Trên phạm vi toàn cầu, doanh thu thị trường mật ong đạt mức 8,5 tỷ euro trong năm 2025. Theo dự đoán của công ty Global Markets Insights, quy mô thị trường này có thể tăng thêm 8% trong vòng mười năm tới. Vấn đề được đặt ra là làm thế nào để duy trì ngành sản xuất mật ong, khi các loài ong đang dần dần biến mất do sinh hoạt con người tác động mạnh lên môi trường và hệ sinh thái. Theo số liệu của Global Markets Insights, Trung Quốc vẫn là nhà xuất khẩu hàng đầu với gần nửa triệu tấn mật ong sản xuất hàng năm (chiếm 20% thị trường toàn cầu), Thổ Nhĩ kỳ đứng hạng nhì với hơn 96.000 tấn. Iran về hạng ba với 78.000 tấn mỗi năm. Về phía Liên hiệp châu Âu, ngành sản xuất đạt mức 280.000 tấn hàng năm, trong đó nước Pháp chiếm khoảng 10% sản lượng (25.000 tấn). Tuy mật ong là một thực phẩm được phổ biến rộng rãi, nhưng tương lai của ngành sản xuất tại Pháp lại khá bấp bênh. Để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, Pháp nhập khoảng 60% mật ong từ Trung Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ. Nhưng theo khảo sát gần đây của cơ quan ANSES chuyên về vấn đề an toàn thực phẩm, gần một nửa các loại mật ong nhập khẩu có giá rẻ thường được pha trộn thêm với đường trắng, nhưng mật ong pha chế lại được bày bán trên cùng một kệ với các loại mật ong nguyên chất chính hiệu, thường có giá cao hơn nhiều. Nhưng đáng lo ngại hơn nữa là các vấn đề liên quan trực tiếp đến nguồn cung ứng tự nhiên. Trước tác động của biến đổi khí hậu khiến nhiều giống cây nở hoa lệch mùa và ngành nông nghiệp sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, các bầy ong cũng như những loài côn trùng khác đang dần dần biến mất. Vấn đề ở đây là loài ong không chỉ làm ra mật. Vai trò quan trọng nhất của chúng chính là thụ phấn, giúp cây trồng đơm hoa kết trái. Theo Tổ chức Lương nông Thế giới FAO, nếu không có các loài côn trùng thụ phấn, con người sẽ mất tới một phần tư sản lượng nông nghiệp toàn cầu mỗi năm. Do vậy, theo giới chuyên gia, việc đề ra những biện pháp nhằm bảo vệ ong mật nói riêng và các loài thụ phấn nói chung đã trở nên cấp bách. Trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, ông Foucaud Bertelot, chuyên gia ngiên cứu thuộc Liên đoàn các nhà nuôi ong tại Pháp (UNAF), hơn bao giờ hết ngành nuôi ong ở châu Âu phải xem xét lại các phương pháp sản xuất, làm thế nào để duy trì việc thu hoạch mật ong có chất lượng mà vẫn bảo vệ được các loài ong mật cũng như môi trường : Foucaud Bertelot : Có khá nhiều nguyên nhân khiến các loài ong đang biến mất dần. Đầu tiên hết là biến đổi khí hậu tác động đến thiên nhiên. Tại nhiều nơi trên địa cầu, nhiệt độ bất thường làm gián đoạn các chu kỳ đâm chồi nẩy mầm. Nở sớm hay nở muộn, các loài hoa khi nở không đúng mùa đều làm lệch chu kỷ phát triển nói chung. Thêm vào đó, có các loại thuốc trừ sâu (chẳng hạn như loại neo-nicotinoid) làm tê liệt hệ thần kinh của các loài sâu bọ phá hoại mùa màng, nhưng loại thuốc trừ sâu này cũng tàn phá rất nhiều bầy ong. Riêng tại châu Âu, theo quan sát của chúng tôi, các loài côn trùng thụ phấn đã giảm khoảng 70% từ những năm 2000. Đối với các loài ong mật, kết quả khả quan hơn một chút nhờ sự can thiệp của con người. Các chuyên gia thường nuôi ong chúa, rồi dùng ong chúa để tạo ra tổ mới, điều đó giúp duy trì số bầy ong, nhưng phương cách này sẽ trở nên vô nghĩa nếu như ở xung quanh chẳng còn nhiều cây cối hay hoa tươi. Nói cách khác để nuôi ong lấy mật, thì trước hết ta phải bảo tồn môi trường tự nhiên của chúng. Còn theo nhà nghiên cứu Stéphane Bonnet, tác giả quyển sách « Abeilles Mellifères » chuyên về các loài ong mật, do nhà xuất bản Terre Vivante phát hành, để bảo tồn các loài ong mật nói riêng và các loài côn trùng thụ phấn nói chung, một trong những biện pháp cần thiết vẫn là tái tạo những khu rừng rậm cũng như để nguyên những cánh đồng hoang. Trong môi trường hoang dã ấy, các loài côn trùng dễ sinh sôi nẩy nở, bảo đảm tính đa dạng của hệ sinh thái. Stéphane Bonet : Trong hàng triệu năm...
    続きを読む 一部表示
    9 分
まだレビューはありません