『Tạp chí văn hóa』のカバーアート

Tạp chí văn hóa

Tạp chí văn hóa

著者: RFI Tiếng Việt
無料で聴く

Sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, đặc biệt là tại Pháp và Việt Nam

France Médias Monde
アート
エピソード
  • Raviolivre : Quyển sách sưu tầm cách làm món hấp ravioli trên thế giới
    2026/09/12
    Ravioli là món ăn truyền thống nổi tiếng của Ý, làm bằng bột mì cán mỏng có nhân bánh đa dạng như thịt, nấm, phô mai, tôm cá, rau củ thái nhỏ. Về hình dáng và cách làm, Ravioli rất giống bánh tai, bánh gối, hoành thánh hay sủi cảo của châu Á. Cùng với mì sợi, ravioli là món ăn khá phổ biến ở khắp nơi, khác hay chăng là thành phần chế biến và cách dùng tên gọi. Trong vòng nhiều năm, nhà báo người Pháp Emmanuel Guillemain d'Echon đã đến nhiều nước trên thế giới, để sưu tầm và ghi chép công thức của mỗi kiểu ravioli của từng nơi. Kết quả là một quyển sách dạy nấu ăn dày gần 600 trang mang tựa đề « RavioLivre, le tour du monde d'un fou du ravioli » (Chuyến du lịch vòng quanh thế giới của một người ghiền Ravioli) do nhà xuất bản Keribus phát hành. Cuốn sách này không phải là một quyển bách khoa toàn thư về Ravioli, mà lại giống như một sổ tay hành trình kết hợp với khám phá ẩm thực, vì tác giả kể lại những cuộc gặp gỡ với các gia đình người dân bản xứ, nghe họ kể lại những truyền thuyết, phong tục cũng như ghi chép lại bí quyết nấu ăn gia truyền. Hành trình viết sách đã đưa tác giả Pháp đi đến hơn 20 nước trên thế giới : từ món Plottes của vùng Québec Canada, bánh Pierogi của Ba Lan, Klepe của vùng Balkans dùng với xốt bơ trắng trộn tỏi chứ không dùng xốt cà chua, loại Kasnudeln và Knodel của Áo, Manti ở Thổ Nhĩ Kỳ, Pelmeni của Nga, Mandu của Hàn Quốc, Gyoza Nhật Bản, Boudz của Mông Cổ, Jiaozi và Wonton của Trung Quốc … Ngoài ra, chương cuối quyển sách dành cho những lộ trình khám phá bên lề, có thể là đề tài trong một quyển sách kế tiếp. Trả lời phỏng vấn đài RFI ban tiếng Pháp, Emmanuel Guillemain d'Echon trước hết cho biết ông thích nhất món raviolis của những nước nào : Trên thế giới, có hàng ngàn kiểu bánh hấp có nhân đa dạng, nhưng tôi vẫn thích nhất loại bánh hấp Modak của Ấn Độ, Tiểu Long bao của Trung Quốc và Khinkali của Gruzia. Đây là một cảm nhận rất chủ quan và hẳn chắc là mỗi độc giả sẽ có một cái nhìn khác. Nhìn chung, tôi thích nét tinh tế trong cách làm cũng như trong hương vị của các loại bánh này. Bánh Modak của Ấn Độ được chế biến như một món ngọt để cúng thần đầu voi Ganesh. Trong khi bánh bao hấp Khinkali của Gruzia lại giống như Tiểu Long Bao (Xiao Long Bao) ở Thượng Hải, đó là loại bánh hấp khá công phu, vì ngoài nhân thịt còn có thêm một chút nước dùng ở bên trong lớp vỏ bột thật mỏng. Nước dùng tạo thêm nhiều hương vị và giữ cho nhân bánh được nóng lâu. Đây là một sự kết hợp khá độc đáo mà người Ý ở vùng Bologna chưa hề nghĩ tới. Lần đầu tiên ăn bánh Khinkali, bạn sẽ khá ngạc nhiên : loại ravioli này nên được ăn nguyên chứ đừng nên cắn từng miếng, vì nếu không khéo, nước dùng sẽ đổ lên áo của bạn. Đây là món ăn quốc hồn quốc túy của Gruzia (dù chưa được công nhận chính thức). Người dân miền núi Khevsur hay Pshav đã nâng cách làm Khinkali lên hàng nghệ thuật. Bánh có vị nhẹ nhàng, cay cay, nhân thịt được trộn với rau thơm và một số thảo mộc đặc biệt của vùng núi Tushetia. Chẳng hạn như hạt thì là của miền núi có hương thơm khác lạ hơn so với loại thì là Ai Cập. Làm thế nào để ghi chép được hết hàng ngàn loại ravioli trên khắp thế giới. Khi bắt tay viết một quyển sách « RavioLivre » với chủ đề phổ quát như vậy, tác giả Emmanuel Guillemain d'Echon cho biết ông đã tự đặt ra một số tiêu chuẩn nhằm hạn chế phạm vi tìm kiếm của mình : Vâng, tôi phải tự giới hạn mình, loại trừ những món bánh chiên hoặc bánh nướng. Bằng không, quyển sách sẽ có đến hàng ngàn trang và cần có thêm nhiều tập. Tại nhiều nước châu Á, các loại bánh bao nhỏ có thể được chiên hay hấp. Thổ Nhĩ Kỳ có loại bánh Manti, người Nhật Bản thường làm bánh Gyoza, bánh được luộc rồi chiên áp chảo. Ở Bắc Phi, cũng có loại bánh brik, bánh pastel ở Senegal, sambosa ở Madagascar, nhưng các loại này gần giống với bánh chiên samossa của Trung Á và Ấn Độ. Vì thế cho nên tôi đưa ra một số tiêu chí rõ ràng : thứ nhất, khổ bánh...
    続きを読む 一部表示
    9 分
  • Góc vườn âm nhạc tưởng niệm giọng ca huyền thoại Dolly Parton
    2026/09/05

    Một mái tóc bồng bềnh vàng óng ánh như lúa mì trong nắng, làn son môi lúc nào cũng đỏ chói cho nụ cười thêm tươi rói. Vóc dáng của Dolly Parton càng trở nên quen thuộc với công chúng nhờ những bộ trang phục tươi sáng, lấp lánh. Gương mặt khả ái ấy giờ đây không còn nữa. Danh ca Dolly Parton đã qua đời vì bệnh ung thư hôm 25/08/2026 vừa qua tại Nashville, hưởng thọ 80 tuổi.

    Được mệnh danh là nữ hoàng dòng nhạc đồng quê, Dolly Parton (1946-2026) sinh trưởng trong một gia đình đông con tại bang Tennessee, Hoa Kỳ. Từ năm lên 10, bà đã di biểu diễn trong các chương trình truyền hình và thường xuyên hát trên đài phát thanh địa phương ở Knoxville, Tennessee. Nhân một buổi biểu diễn, bà đã có cơ hội gặp ca sĩ kiêm tác giả nổi tiếng Johnny Cash. Chính ông là người đã khuyến khích Dolly, lúc bấy giờ mới 13 tuổi, nên đeo đuổi con đường âm nhạc.

    Năm 21 tuổi, DollyParton thu hút sự chú ý khi phát hành album đầu tay "Hello, I'm Dolly" (1967) do chính bà sáng tác và ghi âm. Đến đầu thập niên 1970, sự nghiệp ca hát của Dolly thực sự cất cánh với nhiều bài hát ăn khách như "Jolene, Here you come again, 9 to 5, Coat of Many Colors" và nhất là "I will always love you", được viết hầu như cùng lúc với bài "Jolene".

    Ca khúc nhạc đồng quê kinh điển này được Dolly Parton thu âm lần đầu tiên vào năm 1974. Gần hai thập niên sau đó (1992), Whitney Houston thể hiện lại theo phong cách nhạc pop trữ tình cho bộ phim "The Bodyguard". Nhờ vậy, Dolly Parton trở thành tác giả của một trong những bài hát bán chạy nhất mọi thời đại.

    Trong vòng 60 năm sự nghiệp, Dolly Parton đã phát hành hơn 60 album phòng thu và sáng tác hơn 3.000 bài hát, trong đó có khoảng một phần ba đã được ghi âm, vì ngoài những bản nhạc ăn khách của mình, Dolly Parton còn sáng tác nhạc cho nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác (Merle Haggard, Kenny Rogers, Hank Williams Jr, Emmylou Harris hay Skeeter Davis .....)

    Với thời gian, Dolly Parton trở thành một trong những nghệ sĩ thành công nhất trong lịch sử dòng nhạc country với hơn 100 triệu đĩa hát được bán trên thị trường, 26 đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng Billboard của Mỹ và 11 giải Grammy, nhưng bà vẫn là một gương mặt hiếm hoi, từ lúc còn sống, đã được đưa vào Đại sảnh Danh vọng Âm nhạc Đồng quê (1999) cũng như Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll (2022) cho dù lúc đầu, Dolly Parton đã từ chối đề cử này vì bà nghĩ rằng mình không xứng đáng với một giải thưởng nhạc rock.

    Album cuối cùng của Dolly Parton phát hành cuối năm 2023 mang tựa đề "Rockstar" (Ngôi sao nhạc rock) đánh dấu sự hợp tác của bà với những tên tuổi lẫy lừng nhất làng nhạc rock như Paul McCartney, Ringo Starr, Sting, Elton John, Stevie Nicks, Sheryl Crow hay Miley Cyrus ....

    Tầm ảnh hưởng của Dolly Parton không chỉ dừng lại ở âm nhạc, vì ngoài ca hát bà còn từng đóng phim, sản xuất show truyền hình. Nhờ tài kinh doanh, bà làm ăn thành đạt trong nhiều lãnh vực khác, nhưng quan trọng hơn nữa, bà là một nghệ sĩ có tam lòng nhân hậu. Dolly Parton thường hay tặng tiền cũng như vận động quyên góp nhằm giúp đỡ các gia đình nghèo ở Mỹ, giúp họ vượt qua khó khăn, hoạn nạn hay bị trắng tay sau những đợt thiên tai, đồng thời bà luôn hỗ trợ giáo dục thông qua chương trình "Imagination Library" tặng sách cho trẻ em trên thế giới.

    Có lẽ cũng vì thế trong mắt công chúng Mỹ, nữ hoàng dòng nhạc country không chỉ đơn thuần là một biểu tượng của làng giải trí. Dolly Parton còn là môt tâm hồn độc đáo, vĩ đại hơn cả đời thường, nhưng không bao giờ làm cho những người xung quanh mình cảm thấy nhỏ bé, đáng thương. Một con người vui tính, tốt bụng, đa tài mà vẫn khiêm tốn. Dù nay đã ra đi, nhưng Dolly vẫn để lại cho nước Mỹ một nguồn ánh sáng tưởng chừng bé tí, nào ngờ đâu vĩ đại, diệu kỳ.

    続きを読む 一部表示
    9 分
  • Các nhà văn nữ nổi tiếng nhờ viết truyện trinh thám
    2026/08/28
    Mỗi lần nhắc tới truyện trinh thám, hầu như mọi người đều nghĩ tới Agatha Christie. Với hơn 2 tỷ quyển sách được bán trong một thế kỷ qua, Agatha Christie là nhà văn được đọc nhiều nhất trên thế giới, chỉ sau văn hào Shakespeare. Tuy vậy, tác giả người Anh này không phải là phụ nữ đầu tiên thành danh nhờ sáng tác tiểu thuyết về các vụ án mạng bí ẩn, ly kỳ. Trong làng văn học, ngòi bút đầu tiên được cho là đã khai sinh thể loại trinh thám chính là Edgar Allan Poe. Vào đầu những năm 1840, nhà văn người Mỹ đã đặt nền móng cho phương pháp điều tra hiện đại và lối suy luận logic thông qua ba tập truyện ngắn với nhân vật hiệp sĩ Auguste Dupin. Khoảng hai thập niên sau (1860), nhà văn người Pháp Émile Gaboriau gợi hứng từ cách viết của Poe để sáng tác truyện dài với vào năm 1866 viên thanh tra Lecoq trong tác phẩm « L'Affaire Lerouge » (Vụ án goá phụ Lerouge), ông trở thành cha đẻ của tiểu thuyết trinh thám tiếng Pháp. Chính viên thanh tra Lecoq đã gợi hứng cho bác sĩ Arthur Conan Doyle sáng chế ra thám tử Sherlock Holmes và nhân vật này đã giúp cho truyện trinh thám trở nên nổi tiếng trên khắp thế giới, từ cuối những năm 1880. Về phía các nhà văn nữ, Agatha Christie đã cho ra mắt độc giả quyển tiểu thuyết đầu tiên (Vụ án bí ẩn ở Styles) vào năm 1920. Có thể nói là cả hai nhân vật hư cấu Hercule Poirot và Miss Marple đều đã ra đời nhiều thập niên sau hai thám tử Lecoq cũng như Sherlock Holmes. Thật ra, hầu như vào cùng một thời với Conan Doyle, đã có một số nhà văn nữ nổi tiếng nhờ viết truyện trinh thám, chỉ có điều là tên tuổi của họ không được lưu truyền cho đến tận ngày nay. Hơn nữa, Agatha Christie tựa như một cây đại thụ trong làng văn học, cái bóng quá lớn của bà che khuất hẳn tác phẩm của những ngòi bút nữ đi trước. Có lẽ để bù đắp phần nào thiếu sót này, tác giả người Pháp François Rivière gần đây đã cho phát hành quyển tiểu luận « De l'Assassinat considéré comme une affaire de Femmes », tạm dịch « Khi phụ nữ quan tâm đến các vụ án mạng », nhà xuất bản Calmann-Lévy. Cách đây vài năm, ông François Rivière đã viết một quyển tiểu sử khá đầy đủ về nữ hoàng trinh thám Agatha Christie. Lần này, quyển tiểu luận dành cho các nhà văn nữ (chủ yếu là các tác giả Anh-Mỹ) từng đóng góp khá nhiều cho thời kỳ hoàng kim của tiểu thuyết trinh thám kể từ giữa thế kỷ XIX. Những ngòi bút tiên phong này đã mở đường sau đó cho nhiều văn nữ khác thành công trong thể loại hồi hộp trinh thám cũng như điều tra hình sự. Trong số này, phải kể đến các tác giả người Mỹ như Patricia Highsmith tác giả của các tập truyện xung quanh nhân vật Mr. Ripley (1950) hay Patricia Cornwell (1990). Về phía Anh, có các ngòi bút như P.D James (1960) hay Ruth Rendell (1970). Còn tại Pháp, có các nhà văn nữ như Danielle Thiéry, Karine Giebel, Céline Denjean và nhất là Fred Vargas, nổi tiếng từ những năm 1990 trở đi. Được xem như cánh chim đầu đàn dòng truyện trinh thám của Pháp, nhà văn Fred Vargas nổi bật nhờ lối viết đậm chất văn chương, cuộc điều tra vận dụng nhiều suy nghĩ và thường không có cảnh máu me, chết chóc. Xây dựng xung quanh viên thanh tra Adamsberg, tiểu thuyết của Fred Vargas đã nhiều lần được chuyển thể thành phim truyền hình. Nội dung tác phẩm ít tập trung vào các màn săn lùng hồi hộp, rượt đuổi nghẹt thở mà lại tạo ra một bầu không khí bí ẩn bao trùm, kết nối những chi tiết tầm thường, tưởng chừng nhỏ nhặt rời rạc để rồi dẫn đến cái kết thú vị bất ngờ. Về phần các nữ tác giả tiên phong trong việc viết truyện trinh thám vào giữa thế kỷ XIX, tác giả quyển tiểu luận François Rivière, nhân dịp trả lời phỏng vấn RFI ban tiếng Pháp, cho biết đã có khá nhiều ngòi bút nữ từ giai đoạn khai sinh tiểu thuyết, nhưng sau đó họ lại bị lãng quên dần dần, tác phẩm ít còn được tái bản : « Một trong những gương mặt đã khai sinh dòng tiểu thuyết trinh thám ở Mỹ chính là nhà văn Anna Katharine Green. Sinh trưởng trong một gia đình khá giả, thân phụ là một luật sư ...
    続きを読む 一部表示
    9 分
adbl_web_anon_alc_button_suppression_t1
まだレビューはありません