『Bỉ : Kỳ nghỉ phép có lương, 90 năm thành tựu』のカバーアート

Bỉ : Kỳ nghỉ phép có lương, 90 năm thành tựu

Bỉ : Kỳ nghỉ phép có lương, 90 năm thành tựu

無料で聴く

ポッドキャストの詳細を見る
Tháng Bảy, tháng Tám, tắm biển, đi lên núi, ra nước ngoài, hay ở nhà… là những câu hỏi nơi cửa miệng ở công sở trước mỗi mùa hè. Ngày nay, việc đi nghỉ dài ngày đã trở nên bình thường đối với bất cứ người làm công ăn lương nào tại nhiều nước trên thế giới. Nhưng để trở thành bình thường, điều đó đã phải trải qua một tiến trình dài. Phúc lợi xã hội này chỉ mới được áp dụng ở Bỉ từ năm 1936 sau nhiều cuộc đấu tranh xã hội gay gắt. Khái niệm về kỳ nghỉ đã phát triển, phản ánh các xã hội khác nhau và mối quan hệ của chúng với thời gian và công việc. Từ nguyên của “vacances” trong tiếng Pháp bắt nguồn từ thời cổ đại, từ trong tiếng La tinh “vacare” có nghĩa là “trống rỗng, không người ở, nhàn rỗi”. Ngay cả ở thời kỳ này, người Hy Lạp và La Mã đã phân biệt giữa hai khoảng thời gian : lao động và nghỉ ngơi. Vì vậy, họ dùng từ negotium chỉ thời gian dành cho công việc chân tay và buôn bán và từ otium có thể tạm dịch là “thời gian rảnh rỗi”. Đây là thời gian không làm những việc chân tay và dành cho việc nghỉ ngơi, suy tư, đọc sách và các hoạt động giải trí. Nghỉ ngơi : Đặc quyền của giới quý tộc Tuy nhiên, những khoảng thời gian rảnh rỗi này là đặc quyền của một bộ phận nhỏ dân số, giới thượng lưu quý tộc. Từ thời cổ đại đến thời Trung cổ, giới thượng lưu, quý tộc và tầng lớp thượng lưu không làm việc chân tay, vì lao động bị coi thường, chỉ giành cho tầng lớp hạ lưu. Thế giới nhàn rỗi được dành riêng cho họ. Vào thời đó, mặc dù nghỉ ngơi tồn tại như một khái niệm, nhưng nó chưa thiết lập như một quyền và không phải ai cũng có thể đòi hỏi. Ví dụ như nô lệ và người lao động, rồi sau này là tầng lớp công nhân, không được hưởng những khoảng thời gian rảnh rỗi này. Sự phân biệt đó có cấu trúc bền vững trong các xã hội phương Tây : thời gian rảnh rỗi từ lâu vẫn là đặc quyền dành cho giới thượng lưu. Một bước ngoặc xảy ra vào thời Trung Cổ, đặc biệt là ở các thành thị ở Bắc Âu và những vùng mà ngày nay là Hà Lan (Pays-Bas). Các tháp chuông không đơn thuần là biểu tượng kiến trúc. Được quản lý bởi các thị trấn (communes), chúng thể hiện quyền tự chủ của các thị trấn trước các thế lực phong kiến và tôn giáo. Nhờ có tiếng chuông, giờ giấc làm việc được thông báo công khai. Thời gian bắt đầu và kết thúc ngày làm việc, cũng như giờ nghỉ giải lao, đều giống nhau cho mọi người. Sự phát triển này có vẻ không đáng kể. Tuy nhiên, nó lại mang đến tính quyết định : công việc đang dần được trả công dựa vào thời gian làm việc, chứ không phải dựa trên nhiệm vụ hoàn thành. Lần đầu tiên, thời gian làm việc trở nên có thể đo lường, so sánh và do đó có thể thương lượng. Sự chuyển đổi này tạo nên một trong những nền tảng của nền kinh tế hiện đại. Nghỉ hè để làm nông và nghỉ ngơi liên quan đến tôn giáo Năm 1231, Giáo hoàng Gregorio IX đã ban hành một kỳ nghỉ giữa mùa hè, từ tháng Tám đến tháng Chín, trùng với mùa thu hoạch và hái nho. Khi đó, nhiều học sinh và người học việc sẽ rời bỏ sách vở để về làm việc với cha mẹ trên các cánh đồng. Giáo hoàng đã ban hành kỳ nghỉ này để đáp trả sự tức giận của các giáo sư trong các lớp học vắng vẻ, đặc biệt là tại Đại học Paris danh tiếng. Đây thực sự không phải là kỳ nghỉ hè theo nghĩa như ngày nay và không phải thời gian cho sinh viên nghỉ ngơi, mà để họ có thời gian dành cho công việc đồng áng của gia đình. Cho đến thời Trung Cổ, thời gian nghỉ ngơi chủ yếu được sắp xếp theo lịch tôn giáo. Những ki-tô hữu đi lễ Chủ Nhật. Người Do Thái giữ ngày Sa-bát, trong khi cộng đồng đạo Hồi coi thứ Sáu là ngày nghỉ hàng tuần của họ. Vào thời đó, các lễ hội và các ngày lễ thiêng liêng diễn ra trong năm, mang lại những ngày nghỉ không làm việc trên đồng ruộng hay xưởng thủ công. Những ngày nghỉ này được giành cho việc thực hành tôn giáo, chứ không phải cho sự nghỉ ngơi nhàn hạ, hay không hoạt ...
adbl_web_anon_alc_button_suppression_t1
まだレビューはありません